Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H – TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 24 tháng 10 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H- TỈNH BẮC NINH

—————————

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị H

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị T và bà Trần Thị L

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nghiêm Thị C- Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tập - Kiểm sát viên.

Ngày 24/10/2024 tại trụ sở Tòa án, Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2024/TLST- HS ngày 03/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST- HS ngày 08/10/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H năm 1977. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn X, xã X, huyện G, tỉnh Bắc NinhNghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 năm 1947 và bà Hoàng Thị B năm 1950. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị L năm 1981 và có 02 con; Con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2008.

Tiền án: Bản án số 64/2020/HSST ngày 28/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện H xử phạt H32 tháng tù và phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 22/9/2022, chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung ngày 25/12/2020

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Bản án số 22/2014/HSST ngày 27/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện H xử phạt H06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, phạt bổ sung 3.000.000 đồng về tội "Đánh bạc". Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 27/02/2015, chấp hành xong án phí và hình phạt bổ sung ngày 12/8/2019.
  • + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17 ngày 11/03/2015 của Công an huyện G 1.500.000 đồng về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Chấp hành xong ngày 11/3/2015.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam Nhà tạm giữ Công an huyện G. Có mặt.

2. Nguyễn Sỹ H2 sinh năm 1971. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã X, huyện G, tỉnh Bắc NinhNghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Sỹ C(đã chết) và bà Nguyễn Thị N(đã chết); Vợ là Nguyễn Thị M năm 1970; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/06/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện G

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H2 Ông Trần Văn H3 sư thuộc công ty L1Đoàn luật sư tỉnh B.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn D năm 1994. HKTT: Thôn 1, xã S, huyện G, tỉnh Bắc Ninh Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do H4 nhu cầu đi mua ma tuý về để bán kiếm lời nên trước Hđã đến khu vực gần thành phố T, tỉnh Bắc Ninhvới mục đích tìm mua ma tuý. Tại đây, H5 một người đàn ông không quen biết và hỏi mua của người này 01 gói ma tuý với giá 400.000đ. Sau khi mua được ma tuý, Hvề nhà đã chia gói ma tuý đó ra thành các gói ma tuý nhỏ với mục đích ai mua thì bán để kiếm lời. Đến khoảng 07 giờ ngày 11/6/2024, khi H6 ở nhà một mình tại thôn X, xã X, huyện G, tỉnh Bắc Ninhthì Nguyễn Sỹ H2đi bộ một mình đến nhà H7 “có hàng không”, ý H2hỏi Hcó ma túy bán không để H mua. Htrả lời “có” và bảo H2“lấy bao nhiêu tiền” thì H8 Bllấy 200.000 đồng. Sau đó H2đưa cho H200.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 100.000 đồng. Hcầm tiền H2đưa, cất tiền vào túi áo ngực phía trước bên trái Hđang mặc, rồi H9 từ trong túi quần ngố phía trước bên phải Hđang mặc 01 gói nhỏ được bọc bằng 01 mảnh giấy màu trắng đưa cho Nguyễn Sỹ H10 hiểu đây là ma túy nên cầm lấy và đi về. Mục đích H2mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy H2đi bộ về nhà, khi đang đi trên đường T bị tổ công tác Công an huyện G quả tang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ từ lòng bàn tay phải do H2tự giác giao nộp 01 gói nhỏ được bọc ngoài bằng giấy màu trắng, lớp tiếp theo là giấy báo, mở ra bên trong chứa chất bột màu trắng, H2khai nhận, đây là gói ma túy Heroin H4vừa mua tại nhà Nguyễn Văn H11 giá 200.000 đồng để về sử dụng. Sau đó, tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng ký hiệu M1, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định.

Căn cứ lời trình bày của Nguyễn Sỹ H2tổ công tác Công an huyện G tiến hành áp dụng các biện pháp nghiệp vụ theo dõi hoạt động của Nguyễn Văn HKhoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày 11/06/2024, tại nhà của H12 công tác Công an huyện G H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Văn D1 công tác đã tiến hành bắt quả tang, thu giữ tại túi áo ngực bên trái Hđang mặc số tiền 1.020.000đ, H13 nhận trong số tiền này có 400.000₫ là tiền H14 bán ma tuý cho H2và Dmà có. Sau khi bắt quả tang Htổ công tác tiếp tục truy đuổi đối với D2 phát hiện, bắt giữ D3 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại vườn chuối trước cổng nhà HVật chứng thu giữ: Tại túi quần phía trước bên phải Dđang mặc 01 mảnh giấy bạc có bám dính chất màu đen và 01 mảnh giấy màu trắng có bám dính chất màu trắng, thu giữ tại túi quần bên trái phía trước Dđang mặc 01 bật lửa gas màu xanh đã qua sử dụng, D khai nhận mảnh giấy màu trắng là vỏ gói ma tuý mà D4 mua của H11 giá 200.000đ. Sau đó, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng ký hiệu M2 theo quy định.

Quá trình điều tra D5 nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý khoảng 09 giờ 10 phút ngày 11/6/2024 Dđi bộ một mình đến nhà H7 “chú để cho cháu 200.000 đồng ma túy” thì H15 ý. Sau đó D6 cho H02 tờ tiền mệnh giá mỗi tờ 100.000 đồng, Hcầm tiền của D6 và cất ở túi áo phía trước bên trái. Cùng lúc đó H9 ra từ túi quần phía trước bên phải đưa cho D01 gói nhỏ được bọc bằng giấy màu trắng, Dbiết đó là ma túy, D7 gói ma túy của H16 rồi đi về. Đi ra cổng do đang lên cơn nghiện ma túy nên D8 đi vào vườn ở trước cổng nhà H40 sử dụng gói ma túy vừa mua được của H17 cách cho ma túy ra giấy bạc dùng bật lửa đốt rồi hít, vừa sử dụng xong thì DVà Hbị tổ công tác Công an huyện Gbắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Ngày 11/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H18 trình khám xét khẩn cấp thu giữ trên giường ngủ trong phòng khách của H một gói nhỏ bọc giấy trắng, bên trong là lớp giấy báo mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng được gói lại và cho vào một phong bì thư niêm phong theo quy định ký hiệu A1.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G Quyết định trưng cầu giám định số 454, 455 đến Phòng KCông an tỉnh Bgiám định đối với chất bột màu trắng và chất bám dính màu đen thu giữ của H2Hvà Deó phải là ma túy không? Loại chất ma túy gì? Khối lượng?

Tại Kết luận giám định số 1434/KL-KTHS và 1436/KL-KTHS cùng ngày 13/06/2024 của Phòng KCông an tỉnh Bkết luận:

  • + Chất bám dính trên mảnh giấy bạc và chất bám dính trên mảnh giấy màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M2 là ma túy; Loại ma túy Heroine (HKhông xác định được khối lượng.
  • + Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng là 0,1639 gam; Là ma túy; Loại ma túy Heroine (H
  • + Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng là 0,2024 gam; Là ma túy; Loại ma túy Heroine (H

Heroine (H5có tên khoa học là D1được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Quá trình điều tra xác định H19 ma túy cho H2và Dnhằm mục đích kiếm lời, H2và Dmua ma túy của H20 sử dụng cho bản thân.

Ngày 23/8/2024, Công an huyện G quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn D9

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 61/CT- VKSGB ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H21 tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Sỹ H22 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Hthừa nhận ngày 11/06/2024 tại nhà ở của mình, bị cáo đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn S H2và Hoàng Văn D10 ra bị cáo còn tàng trữ 01 gói ma tuý hêrôin trên giường ngủ, tại phòng khách nhà mình, nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời. Bị cáo nhất trí với kết luận của cơ quan chuyên môn về khối lượng và loại ma túy Hbán cho H2và Dkhối lượng và loại ma tuý Htàng trữ tại nhà để bán cho người khác kiếm lời, không có ý kiến thắc mắc.

Bị cáo H2thừa nhận ngày 11/6/2024 tại nhà ở của HH2có mua ma túy của H20 về sử dụng do bản thân nghiện chất ma túy. Bị cáo nhất trí với kết luận của cơ quan chuyên môn về khối lượng và loại ma tuý mà bị cáo tàng trữ để sử dụng cho bản thân.

Các bị cáo đều ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bản thân và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên cáo trạng truy tố; Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo đã đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H23 tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ H24 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm b, khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn H25 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024. Phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 05 đến 10 triệu đồng sung quỹ Nhà nước.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn S H2từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000đ. Trả lại cho bị cáo H26 tiền 620.000₫ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án..

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Hông Trần Văn H27 biểu quan điểm: Nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với H28 Về hình phạt, ông H29 đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo có thời gian giam gia nghĩa vụ quân sự, bố đẻ bị cáo được tặng thưởng huân huy chương trong thời kỳ kháng chiến, là người có công với cách mạng để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm x, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX cho bị cáo H hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, làm lại cuộc đời. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản để tích luỹ, phải nuôi bố mẹ già thường xuyên ốm đau, bệnh tật nên đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với H28

Đối đáp với ý kiến tranh luận của luật sư H29 đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Bị cáo Hcó 01 tiền án và có nhân thân xấu. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đại diện Viện kiểm sát đã áp dụng đầy đủ, bố Hđược tặng thưởng huân huy chương trong thời kỳ kháng chiến nên có thể vận dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51, chứ không được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 như đề nghị của luật sư. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp. Bị cáo H30 bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H20 thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên toàn bộ quan điểm.

Bị cáo H2không có ý kiến tranh luận và không trình bày lời bào chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Cơ quan CSĐT Công an huyện G, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Đối với anh Hoàng Văn D11 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, nhưng anh D12 có lời khai đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ; đã có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, sự vắng mặt của anh D13 làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, tang vật thu hồi được và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận, ngày 11/6/2024 Hcó hành vi bán trái phép 0,2024 gam Heroine cho H2và bán trái phép chất ma túy heroine cho D14 mục đích kiếm lời. Ngoài ra bị cáo còn tàng trữ 0,1639 gam Heroine để bán để kiếm lời. Bị cáo H31 thực hiện hai lần bán trái phép chất ma tuý cho người khác, đối với mỗi lần bán trái phép chất ma tuý của H32 đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố Hvề tội Mua bán trái phép chất ma tuý với tình tiết định khung “Phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo H mua 0,2024 gam Heroine của H21 để sử dụng do bản thân nghiện chất ma túy. Hành vi của H đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự- Đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ, đó là chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trước cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đối với bị cáo H4 thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, có bố đẻ được tặng thưởng huân huy chương trong thời kỳ kháng chiến nên cần vận dụng cho H33 hưởng thêm hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo H2phạm tội lần đầu, là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo H2không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đối với bị cáo H

Năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 32 tháng tù và phạt bổ sung 5.000.000 đồng về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 22/9/2022. Chưa được xóa án tích. Do đó, lần phạm tội này H34 chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Năm 2014, H35 Tòa án nhân dân huyện H xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, phạt bổ sung 3.000.000 đồng về tội "Đánh bạc". Năm 2015 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Mặc dù lần phạm tội này của H31 được xóa án tích, quyết định xử phạt vi phạm hành chính của H31 chấp hành xong đủ thời gian để được coi là không có tiền sự, nhưng cũng cần đánh giá Hlà người có nhân thân xấy, có ý thức coi thường pháp luật, khó có khả năng giáo dục cải tạo.

HĐXX xét thấy cần có mức án nghiêm, cách ly cả hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H30 bán ma túy kiếm lời, tuy nhiên, xét hoàn cảnh gia đình bị cáo, HĐXX chỉ áp dụng mức hình phạt bổ sung với số tiền 5.000.000₫ là phù hợp.

Bị cáo H2không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản tích lũy, bản thân nghiện chất ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với H2.

[7] Về vật chứng của vụ án:

Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với số tiền 400.000₫ là tiền Hbán ma túy mà có nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 620.000₫ thu giữ của H37 liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho H36 tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Liên quan trong vụ án còn có Hoàng Văn D11 người mua ma túy của bị cáo H20 sử dụng. Việc Dsử dụng trái phép chất ma tuý tại vườn chuối của nhà Hnhưng H37 biết. D12 sử dụng hết số ma túy vừa mua của Hnên không xác định được khối lượng. Quá trình điều tra xác định D13 có tiền án, tiền sự về các tội phạm “Mua bán, tang trữ trái phép chất ma túy”, Công an huyện G quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D11 phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho H38 gần TDo Hkhông biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G có đủ căn cứ để điều tra làm rõ. Khi nào xác minh làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.

Xét các ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về xử lý vật chứng, về hình phạt bổ sung là có cơ sở nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H23 tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ H39 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ điểm b, khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt Nguyễn Văn H2 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024 là ngày tạm giữ bị cáo. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000₫ sung quỹ Nhà nước.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt Nguyễn Sỹ H2 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024 là ngày tạm giữ bị cáo.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H40 bị cáo Nguyễn Sỹ H2mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 phong bì thư niêm phong mẫu vật sau giám định, mặt trước có ghi: Cơ quan CSĐT- C1Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Nguyễn Văn H41: 1977 ở X, G ở S, Gcó hành vi mua bán ma túy. Mặt sau có chữ ký của giám định viên, cán bộ điều tra và dấu đỏ của Phòng KCông an tỉnh Bkèm theo kết luận giám định số 1434 ngày 13 tháng 6 năm 2024.
  • - 01 phong bì thư niêm phong mẫu vật sau giám định, mặt trước có ghi: Cơ quan CSĐT- C1Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ Nguyễn S H2SN 1971 ở X, Gtàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau có chữ ký của giám định viên, cán bộ điều tra và dấu đỏ của Phòng KCông an tỉnh Bkèm theo kết luận giám định số 1436 ngày 13 tháng 6 năm 2024.
  • - 01 bật lửa.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 400.000đ.

Trả lại cho bị cáo H26 tiền 620.000₫ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng nêu trên được mô tả theo đúng biên bản bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H.

4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Hvà Nguyễn S H2mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án vắng mặt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND huyện H;
  • - THA huyện H (án có HLPL);
  • - Những người TGTT;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán -Chủ toạ phiên toà




Vũ Thị H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H – TỈNH BẮC NINH về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H – TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H và H1 phạm tội tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger