|
TAND THÀNH PHỐ L TỈNH L |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày 28-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Chí Sung
Bà Hà Thị Liên
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lệ Quyên – Thư ký Toà án nhân dân thành phố L, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Tính, Kiểm sát viên.
Ngày 28/10/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 02/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/10/1988 tại tỉnh Phú Th. Nơi ĐKHKTT: Khu C, xã Cự Đ, huyện Thanh S, tỉnh Phú Th; Chỗ ở hiện nay: Bản Thà Giàng Ch, xã Tả N, huyện S, tỉnh L; Nghề nghiệp: Giáo viên; Nơi công tác: Trường PTDT bán trú tiểu học Tả N, huyện S, tỉnh L; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Nguyễn Văn L1, đã chết. Con bà: Đinh Thị D, sinh năm 1957; Có vợ là Thào Thị N, sinh năm 1986 và có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2020. Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư; Tiền sự: Không. Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 cho đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Hồi 17 giờ 00 phút, ngày 18/6/2024, tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh L phối hợp với Công an thành phố L làm nhiệm vụ tại khu vực Bản San T, xã San T, thành phố L, tỉnh L thì phát hiện Nguyễn Văn H đang đứng một mình tại khúc cua Lý Chiêu có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra, Nguyễn Văn H tự giác giao nộp 01 gói được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng đang để trong lòng bàn tay trái. Theo Nguyễn Văn H khai đó là Heroine, H tàng trữ để sử dụng. Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng để điều tra, làm rõ.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H khai nhận: Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là vào khoảng gần 16 giờ 00 phút, cùng ngày 18/6/2024 H đang đi chơi ở bản San T, xã San T, thành phố L, tỉnh L thì lên cơn nghiện ma túy nên đã đi bộ một mình để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi H đi trên đường dân sinh trong bản San T thì gặp một người đàn ông lạ mặt, nhìn giống người nghiện nên hỏi mua heroine với giá 200.000 đồng (Người đàn ông tự giới thiệu tên là L2, nhà ở bản San T, xã San T). Sau khi mua được gói ma túy H cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng thì bị cơ quan điều tra phát hiện, bắt quả tang.
Kết luận giám định số: 40/KLGĐ ngày 18/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: Số chất bột khô màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn H có khối lượng là 0,24gam. Đồng thời lấy toàn bộ 0,24 gam gửi làm mẫu vật giám định.
Kết luận giám định số: 802/KL-KTHS ngày 23/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: 01(một) Mẫu chất bột, màu trắng gửi đến giám định là ma tuý, loại Heroine (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Cáo trạng số: 60/CT-VKSTP ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Nguyễn Văn H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, v khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 15 đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ: 01 phong bì công văn của Công an thành phố L phát hành, các mép được dán kín (theo hồ sơ bên trong là: 01 mảnh nilon màu trắng). Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát và không có ý kiến đối đáp, tranh luận gì.
Tại lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, các Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng, kết luận giám định ... được xem xét và tranh tụng công khai tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 17 giờ 00 phút, ngày 18/6/2024 tại Bản San T, xã San T, thành phố L, tỉnh L. Nguyễn Văn H đang tàng trữ trái phép 0,24gam Heroine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Bị cáo Nguyễn Văn H là người có đầy đủ năng L2 chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, không oan sai, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên về mức hình phạt đối với bị cáo có phần hơi nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; quá trình công tác bị cáo được tặng Bằng khen do đã có nhiều đóng góp cho sự ngH giáo dục và đào tạo L nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s, điểm v khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để tiếp tục răn đe, giáo dục bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 0,24 gam Heroine đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã gửi toàn bộ đi để giám định chất không hoàn lại mẫu vật nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.
Đối với 01 mảnh nilon màu trắng là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, theo lời khai của Nguyễn Văn H, nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch, người này tự giới thiệu tên là L2 nhà ở bản San T, xã San T. Kết quả điều tra, tại địa bàn bản San T, xã San T có một người đàn ông tên là Thào Văn L2, sinh năm 1995, tuy nhiên L2 khai không quen biết và không bán ma túy H nên cơ quan điều tra đã cho H nhận dạng nhưng H xác định Thào Văn L2 không phải người bán Heroine cho H. Ngoài lời khai của H không có tài liệu chứng cứ khác nên không thể điều tra, làm rõ vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[6] Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1 Điều 51, Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, Điều 106; Điều 135, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024
-
Về vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an thành phố L phát hành, các mép được dán kín (theo hồ sơ bên trong là: 01 mảnh nilon màu trắng)
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 giữa Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố L).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân cấp trên.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tòng Thị Tuyết |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
