Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày: 05-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh và ông Nguyễn Văn Hai

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Minh Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69A/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh T (tên gọi khác: Nhi M), sinh năm 2000, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số E, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Thợ xăm; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn N, sinh năm 1973 và bà Lê Thị T1, sinh năm 1974; Anh, chị em: 01 người, sinh năm 1996; Vợ, con: Không; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Ngày 07/12/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (có mặt).

Bị hại: Anh Phan Ngọc D, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Số B, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Phan Ngọc D: Bà Hồ Thị Xuân H - Luật sư thuộc Văn phòng L, đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Mai Thanh H1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Số H, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện nay: Phòng số 7, nhà T, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Số I, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện nay: P, Nhà T N, Khóm B, Phường B, thành phố S.

- Anh Lưu Thanh T2, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Số E, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

- Chị Trần Thị D, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Số E, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

- Anh Mai Hoàng C1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Số A, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện nay: Số A, Khóm A, Phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

- Anh Lưu Tấn T3, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Số E, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện nay: Số D, L, phường P, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Anh Nguyễn Ngọc T4, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Số A, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện nay: Số E, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

- Anh Lê Hữu S, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Số A, ấp K, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

- Anh Lưu Hoàng T5, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Số E, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

- Anh Trương Thanh P, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Tổ I, Ấp G, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Nơi ở hiện nay: Số E, Khóm E, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

- Anh Trần Văn N, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Số F, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

- Anh Trần Minh H2, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện nay: Khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

- Anh Nguyễn Văn T6, sinh năm 2002. Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

- Anh Nguyễn Phước H3, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Số C, ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 01/9/2022, Trần Minh T (N) có đến dự đám giỗ tại nhà của vợ, chồng anh Lưu Thanh T2 và chị Trần Thị D tọa lạc số 518/12, Khóm E, Phường A, thành phố S.

Đến khoảng 13 giờ cùng ngày 01/9/2022, anh T2 đang đứng trước nhà thì gặp anh Phan Ngọc D điều khiển xe mô tô chở chị Mai Thanh H1 đi ngang qua nơi anh T2 đứng để vào phòng trọ. Thấy chị H1 nên anh T2 dùng tay vỗ vào đùi chị H1. Sau khi vào phòng trọ thì anh D đi ra gặp và kêu anh T2 vào xin lỗi chị H1, khi anh T2 vào gặp để xin lỗi thì chị H1 có dùng tay đánh trúng vùng cổ anh T2 02 cái. Sự việc này được anh T2 kể lại cho chị D nghe. Sau đó chị D, anh T2 nhiều lần vào cự cãi với chị H1, đồng thời trong lúc cự cãi thì chị D và chị H1 cũng có xảy ra đánh nhau nhưng anh T2 can ngăn. Do có cự cãi nên anh T2 yêu cầu anh D, chị H1 trả lại phòng trọ, không tiếp tục cho thuê nữa.

Sau đó, chị H1 điện thoại gặp và nhờ anh ruột là Mai Hoàng C1 đến phòng trọ đón tiếp và kể lại sự việc. Nghe xong, anh C1 tức giận nên lấy 01 con dao loại dao tự chế dài 42cm để lên ba ga xe mô tô biển số 66S1-367.33 rồi điều khiển xe chạy đến phòng trọ của chị H1. Khi anh C1 chạy ngang nhà trọ X thuộc Khóm D, Phường A, thành phố S thì gặp chị H1 nên chở chị H1 cùng đến nhà anh T2. Khi đến nhà anh T2 thì anh C1 cầm dao tự chế xông đến bắn những người đang uống rượu, bia tại nhà anh T2, nên anh T4Tấn T3 đến khống chế và tước lấy con dao của anh C1 và trình báo công an P1, thành phố S, nhưng công an chưa đến thì anh C1 đã bỏ chạy về nhà.

Vào khoảng 15 giờ cùng ngày, Minh T sau khi thức dậy và nghe kể lại (không rõ ai kể) việc anh C1 cầm dao rượt chém những người đang uống rượu, bia tại nhà anh T2 thì ra phía trước nhà anh T2 lấy con dao tự chế dài khoảng 60cm để lên yên xe mô tô biển số 66C1-617.04 rồi điều khiển xe đến nhà anh D tại số B, Khóm D, Phường A, thành phố S. Đến nơi, T tay cầm dao đi vào gặp, rượt đuổi chém nhiều nhát trúng vào cơ thể, tay, chân của anh D. Sau khi chém anh D xong, T điều khiển xe mô tô, mang theo con dao chạy đến khu vực gần cầu Thuộc xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì T ném bỏ mất con dao, không thu hồi được.

Qua xác minh điều tra, công an đã trích xuất thu giữ 02 đoạn dữ liệu Camera có ghi lại hình ảnh một số đối tượng đi trên xe mô tô cầm theo hung khí xuất hiện khu vực nhà anh D lưu vào USB và thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển số 66C1-617.04 của Minh T; 01 xe mô tô biển số 66S1-367.33 và 01 cây dao tự chế dài 42cm, cán bằng gỗ dài 16,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 25,5cm của anh C1, để làm căn cứ giải quyết theo quy định.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 310/TgT ngày 18/10/2022 của Trung tâm pháp y sở y tế tỉnh Đ kết luận đối với Phan Ngọc D như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

  • - 02 Sẹo vết thương phần mềm mặt sau trong cổ tay phải, kích thước trung bình. Mối sẹo: 02%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm mặt trước 1/3 giữa cẳng chân phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương: 02%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm đốt gần ngón I bàn chân phải, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 01%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm đốt xa ngón I bàn chân phải, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 01%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm ngón II bàn chân phải, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 01%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm ngón III bàn chân phải, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 01%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm ngón IV bàn chân phải, kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương: 01%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm mặt ngoài gối trái, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương: 02%.
  • - Sẹo vết thương phần mềm bàn chân trái đến giữa gan bàn chân trái, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương: 02%.
  • - Gãy đầu dưới xương trụ phải can xương trục thẳng. Tỷ lệ tổn thương: 06%.
  • - Gãy xương cẳng tay phải đã liền nhưng thân xương có khuyết lớn. Tỷ lệ tổn thương: 21%.
  • - Tổn thương nhánh thần kinh hông khoeo ngoài phải (dây thần kinh mác nông phải). Tỷ lệ tổn thương: 07%.
  • - Gãy xương đốt gần ngón I chân phải. Tỷ lệ tổn thương: 01%.
  • - Tổn thương hoàn toàn thần kinh hông khoeo trái (dây thần kinh chày trái). Tỷ lệ tổn thương: 21%.
  • - Tổn thương nhánh thần kinh hông khoeo ngoài trái (dây thần kinh mác nông và mác sâu trái). Mối nhánh dây thần kinh tỷ lệ tổn thương: 07%.
  • - Gãy xương gót chân trái. Tỷ lệ tổn thương: 06%.

2. Kết luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phan Ngọc D do thương tích gây nên hiện tại là 62%. Tại thời điểm giám định. Theo nguyên tắc lùi tại Thông tư (khi có hai tỷ lệ tổn thương trở lên).

3. Kết luận khác:

- Các tổn thương trên do vật sắc nhọn gây ra.

Tại Biên bản Giám định Y khoa số 235/GĐYK-Khác ngày 16/12/2022 của Hội đồng Giám định Y khoa sở Y, kết luận:

Căn cứ Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH ngày 27/9/2013 quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích, bệnh, tật và bệnh nghề nghiệp. Hội đồng Giám định Y khoa tỉnh Đồng Tháp kết luận: Ông Phan Ngọc D. Được xác định: Mức suy giảm khả năng lao động: 37%. Tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là: 37%.

Về tài sản tạm giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã hoàn trả 01 xe mô tô biển số 66C1-617.04 cho bị cáo T nhận lại xong; 01 xe mô tô biển số 66S1-367.33 cho anh Mai Hoàng C1 nhận lại xong.

Trong quá trình điều tra anh Phan Ngọc D yêu cầu thanh bồi thường thiệt hại tổng cộng 105.608.206 đồng, trong đó: Tiền chi phí điều trị 10.108.206 đồng; tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 74.500.000 đồng; Tiền xe đi lại điều trị và tái khám 6.000.000 đồng; Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe 15.000.000 đồng. Bị cáo Minh T đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của anh D. Quá trình điều tra, ông Trần Văn N (cha của bị can Minh T) đã bồi thường cho anh D tổng cộng 105.608.206 đồng, anh D đã nhận xong. Ngoài ra, anh D còn yêu cầu anh T bồi thường tiền chi phí nếu có phát sinh khi đi tái khám hoặc điều trị sau này. Bị cáo T cũng đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh D. Tại phiên tòa, anh D yêu cầu bị cáo bồi thường thêm thu nhập bị giảm sút từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2023 tổng cộng 34.743.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh D.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS-TPSD ngày 03/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh T mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù. Ngoài ra, còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật.

Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận; xin được giảm nhẹ hình phạt.

Luật sư Xuân H phát biểu quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu công bố lời khai của người làm chứng là phù hợp với diễn biến tại phiên tòa, tuy nhiên đại diện Viện kiểm sát cần nêu rõ lý do không công bố để những người tham gia phiên tòa biết rõ hơn; trong vụ án này Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể xác định được nhân thân, lai lịch của bất kỳ ai khác ngoài bị cáo gây thương tích cho bị hại nên Viện kiểm sát đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, làm rõ xử lý sau là hoàn toàn phù hợp. Đối với mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với tính chất mức độ hành vi bị cáo gây ra.

Bị hại không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh T thừa nhận vào khoảng 15 giờ ngày 01/9/2022 tại tại khu vực nhà số B, Khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo đã vô cớ sử dụng dao là hung khí nguy hiểm chém nhiều nhát trúng cơ thể, tay, chân của anh Phan Ngọc D gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 62%. Tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là 37%. Lời khai nhận này của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

[3] Tại thời điểm gây ra thương tích cho anh D, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và hoàn toàn nhận thức được dao tự chế là hung khí nguy hiểm vì nó có lưỡi sắc bén, nếu sử dụng để đâm, chém vào cơ thể người khác sẽ gây ra thương tích thậm chí gây nguy hiểm đến tính mạng nếu trúng vào những vùng trọng yếu. Giữa bị cáo và anh D không hề có mâu thuẫn gì, thế nhưng với bản tính hung hăng, côn đồ, xem thường pháp luật nên khi nghe kể lại sự việc mâu thuẫn giữa anh T2 với anh D, bị cáo chẳng cần xác minh đúng sai đã lập tức đi tìm anh D và cố ý dùng dao chém nhiều cái vào người D gây thương tích. Với tính chất mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện như trên và tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể mà bị cáo gây ra cho anh D là 62% thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng ... hung khí nguy hiểm...

b) ...

t) Có tính chất côn đồ...

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) ...;

...;

Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;...”.

[4] Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để có điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; nên cần áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, anh Phan Ngọc D yêu cầu bị cáo T bồi thường thêm tiền thu nhập bị giảm sút từ tháng 01/2023 cho đến tháng 12/2023 với mức bồi thường 34.743.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh D, nên cần chấp nhận sự tự thỏa thuận của các đương sự.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 dao tự chế dài 42cm, cán bằng gỗ dài 16,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 25,5cm của anh C1 mang theo đến nhà anh T2 cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 500.000 đồng của gia đình bị cáo T nộp, cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

[9] Đối với phát biểu luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và phát biểu của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo Trần Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[11] Các vấn đề khác:

- Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy ngoài bị cáo T thì còn có đồng phạm khác cùng thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa được khởi tố nên ngày 22/9/2023 Hội đồng xét xử sơ thẩm đã có Quyết định số 08/2023/HSST-QĐ đề trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc để trả hồ sơ điều tra bổ sung. Tuy nhiên, tại văn bản số 341/CV-VKSTPSD ngày 23/11/2023, Viện kiểm sát kết luận chưa có cơ sở để nhận định, xác định được ai khác ngoài bị cáo cùng tham gia gây thương tích cho bị hại nên giữ nguyên kết quả, điều tra truy tố theo Cáo trạng số 30/CT-VKS-TPSD ngày 03/7/2023, đồng thời bị hại cũng xác định ngoài nhận diện được bị cáo thì không nhận diện, xác định được nhân thân, lai lịch của bất kỳ ai khác gây thương tích cho mình. Do đó, trong vụ án này chỉ tiến hành xét xử đối với hành vi gây thương tích cho anh D của bị cáo Trần Minh T theo Cáo trạng đã truy tố, đồng thời Kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S sẽ tiếp tục xác minh làm rõ ngoài bị cáo T thì còn có đồng phạm nào khác cùng thực hiện hành vi phạm tội và xử lý theo quy định pháp luật.

- Đối với các anh, chị Mai Thanh H1, Mai Hoàng C1, Lưu Thanh T2, Trần Thị D, Lưu Tấn T3, Nguyễn Ngọc T4, Lưu Hiệp S1 có xảy ra mâu thuẫn cự cãi, đánh nhau nhưng không ai bị thương tích và tất cả đã viết đơn xin từ chối giám định tỷ lệ thương tật và không yêu cầu xử lý hình sự, nên không xem xét xử lý về mặt hình sự. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố S đã có văn bản đề nghị Công an P1, thành phố S xem xét xử lý hành chính theo thẩm quyền.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm d khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Minh T mức án 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/12/2022 (ngày tạm giam).

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 590 của Bộ luật Dân sự:

Bị cáo Trần Minh T bồi thường cho anh Phan Ngọc D tiền thu nhập bị giảm sút từ tháng 01/2023 đến tháng 12/2023 là 34.743.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi hành xong.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 cây dao tự chế dài 42cm, cán bằng gỗ dài 16,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 25,5cm đã qua sử dụng, được niêm phong bằng giấy trắng có đóng dấu mộc tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, ghi ngày 08/03/2023 và chữ ký xác nhận Mai Hoàng C1.

- Tiếp tục quản lý: Tiền Việt Nam 500.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo T.

(Hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố S đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2023)

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Bị cáo Trần Minh T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.737.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo Trần Minh T, bị hại Phan Ngọc D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Mai Thanh H1, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp; (01b)
  • - VKSND TP Sa Đéc; (02b)
  • - Công an TP Sa Đéc; (04b)
  • - Chi cục THA TP Sa Đéc; (01b)
  • - Sở Tư pháp; (01b)
  • - Thi hành án hình sự; (01b)
  • - Bị cáo; (01b)
  • - Những người tham gia tố tụng; (02b)
  • - Lưu: HS, VT, TP; (03b)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hoàng Minh

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (tội cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh T dùng dao chém bị hại Phan Ngọc D gây thương tích 61%
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger