|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01/2024/HS-ST Ngày: 03-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Xuân Lộc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Thị Luyến
- Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Man Anh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 167/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Phan Thị Phương T (tên khác: Không), sinh ngày 23 tháng 3 năm 2000 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT: xóm C, xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; chồng là Nguyễn Thế S và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Nguyễn Thị T3 (tên khác: Không), sinh ngày 26 tháng 6 năm 1999 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT: xóm C, xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp trước khi phạm tội: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị H; chồng là Trần Tùng L và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Bị hại: chị Quách Thị Thanh B, sinh năm 1996; Nơi thường trú: xóm R, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Nơi tạm trú: TDP A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn xin vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Công S1, sinh năm: 1996; Nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Chị Quách Thị Biên H1; sinh năm 1996; Nơi cư trú: xóm R, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thế S; sinh năm 1997; Nơi cư trú: xóm C, xã V, thành phố P, Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Trần Minh H2; sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện Đ, TP Hà Nội. Vắng mặt.
- Chị Trương Thị L1; sinh năm 1991; Nơi cư trú: TDP A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Chị Đoàn Thu T4; sinh năm 1997; Nơi cư trú: TDP A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Vũ Văn T5; sinh năm 1992; Nơi cư trú: TDP A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Ánh S2; sinh năm 1997; Nơi cư trú: xóm B, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Chị Lại Thị N, sinh năm 1999; Nơi cư trú: xóm A, xã T, TP P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Chị Ngô Thúy H3, sinh năm 2003; Nơi cư trú: xóm A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Chị Tạ Thị H4, sinh năm 1995; Nơi cư trú: TDP Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Chị Nịnh Thị X, sinh năm 2000; Nơi cư trú: xóm D, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Chị Phan Trà M, sinh năm 2003; Nơi cư trú: xóm Đ, xã Ô, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Thị Phương T và anh Nguyễn Thế S là hai vợ chồng cùng chung sống tại xóm C, xã V thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng tháng 6/2023, T phát hiện anh Nguyễn Thế S có quan hệ tình cảm với chị Quách Thị Thanh B, sinh năm 1996, trú tại xóm R, xã M, huyện L, tỉnh Hòa Bình là công nhân cùng làm việc tại Công ty TNHH H5 thuộc khu công nghiệp Y, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Sáng ngày 22/6/2023, T gọi điện cho Nguyễn Thị T3 (là em họ của chồng T) đến đón rồi hẹn gặp chị B tại cửa hàng K thuộc tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để hỏi chuyện. Khi gặp nhau nói chuyện thì chị B có thừa nhận trong thời gian vừa qua đã quan hệ tình cảm và tình dục với anh S là chồng của T. Nghe chị B nói như vậy, T đã mắng, chửi rồi dùng tay tát vào mặt và vai của chị B thì được chị chủ quán can ngăn nên T không đánh chị B nữa. Tiếp đó T yêu cầu chị B đưa T và T3 về phòng trọ của chị B để nói chuyện tiếp, chị B đồng ý rồi cùng T và T3 đi về phòng trọ của chị B ở tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây T, T3 và chị B có gặp anh Trần Minh H2, sinh năm 1997, trú tại thôn L, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội (là người yêu của chị B) nên T đã nói lại chuyện cho anh H2 biết về việc chị B có quan hệ tình cảm và tình dục với chồng của T, nghe T nói vậy anh H2 đã đi ra ngoài. Lúc này T và T3 tiếp tục quay sang chửi mắng chị B, T3 dùng tay túm tóc chị B bắt chị B quỳ xuống xin lỗi T, chị B phải quỳ xuống, khi đó T dùng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 của T để quay video, sau đó T đưa điện thoại đang ở chế độ quay video cho T3 để T3 tiếp tục quay còn T dùng tay túm tóc chị B tát nhiều cái vào mặt, dùng chân đạp nhiều cái vào người chị B rồi tiếp tục bắt chị B quỳ để lăng mạ, chửi bới bằng lời nói như “Con đĩ, ngu, đồ lăng loàn, mặt mày xấu vãi L ra”. Sau đó anh H2 đi vào can ngăn nên T và T3 không đánh và làm nhục chị B nữa, rồi cả hai cùng bỏ về.
Khi về nhà, T có gửi đoạn video ghi lại cảnh đánh, lăng mạ và làm nhục chị B qua ứng dụng Messenger của Facebook cho các Facebook có tên “Vũ Thiện”; “Đoàn Thu T3”; “Lại Thị N”; “Chị T6”; “Phan Trà M”; “Xiêm Xiêm”; “Nguyễn Công S1”; “Hoài Hoài”; “Trang Em”; “Huyền Nhíp” là những người quen của T. Đến tối ngày 22/6/2023, T thấy hình ảnh video ghi lại quá trình đánh và làm nhục chị B xuất hiện nhiều trên mạng xã hội Facebook nên T đã liên hệ với các Facebook trên để yêu cầu xóa video, đồng thời T cũng thu hồi và xóa bỏ video mà T đã gửi cho những Facebook này. Ngay sau khi biết được nội dung đoạn video bị phát tán trên mạng xã hội, ngày 23/6/2023 chị Quách Thị Biên H1 và Quách Thị Thanh B đã làm đơn trình báo Công an phường Đ, thành phố P đề nghị giải quyết. Sau đó ngày 26/6/2023, T đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại hiệu IPHONE 13 cho Công an phường Đ và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngày 28/6/2023, Công an phường Đ đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc và đồ vật, tài liệu liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền. Đối với Nguyễn Thị T3 sau khi nhận được video ghi lại cảnh đánh và làm nhục chị B mà T gửi cho, xem xong T3 đã xóa đi và không đăng tải hay lan truyền cho ai, việc T gửi video này cho những ai thì T3 không tham gia và cũng không được biết.
Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc đối với những người nhận được hình ảnh video do T gửi kết quả: Những người sử dụng Facebook có tên “Vũ Thiện”; “Đoàn Thu T3”; “Lại Thị N”, “Chị T6”; “Phan Trà M”, “Xiêm Xiêm”; “Hoài Hoài”, “Trang Em”, “Huyền N1” đều khai có nhận được đoạn video do T gửi ghi lại quá trình đánh và làm nhục một người phụ nữ (chị B), nhưng những người này không lan truyền hay đăng tải video này cho ai, đến nay đoạn video đó đã được thu hồi lại không còn lưu giữ trong máy.
Tiến hành mở chiếc điện thoại hiệu IPHONE 13 do T giao nộp kiểm tra thì phát hiện thấy tại mục hình ảnh và M1 có nhiều nội dung liên quan đến vụ án. Tiến hành mở chiếc USB do Quách Thị Biên H1 giao nộp kiểm tra giữ liệu bên trong phát hiện đoạn video có thời lượng 04 phút 46 giây, có nhiều nội dung liên quan đến việc Phan Thị Phương T và Nguyễn Thị T3 làm nhục chị Quách Thị Thanh B vào ngày 22/6/2023. Tại bản kết luận giám định số 5100/KL-KTHS ngày 21/7/2023 của V Bộ C1 kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các file video quay lại quá trình chị B bị làm nhục và phát tán trên mạng xã hội Facebook do chị B cung cấp gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 566/KLTTCT-TTPY ngày 07/7/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T kết luận: Hiện tại không có dấu hiệu của thương tích. Căn cứ Thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Quách Thị Thanh B, tại thời điểm giám định là 0% (Không phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
Vật chứng của vụ án: 01 chiếc USB màu vàng có dung lượng 32 GB và 02 chiếc đĩa CD được lưu chuyển theo hồ sơ vụ án; 01 chiếc điện thoại di động hiệu IPHONE 13 màu hồng được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Về phần trách nhiệm dân sự: Chị Quách Thị Thanh B không yêu cầu T và T3 phải bồi thường gì. Tuy nhiên sau khi sự việc xảy ra chị B cảm thấy xấu hổ đã tự nghỉ việc tại Công ty TNHH H5, nên T và T3 đã tác động gia đình đến xin lỗi và bồi thường cho chị B số tiền 10.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 181/CT-VKSPY ngày 30/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phan Thị Phương T về tội “Làm nhục người khác” theo điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Thị T3 về tội “Làm nhục người khác” theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với vật chứng đã bị thu giữ.
Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Phan Thị Phương T và Nguyễn Thị T3 phạm tội “Làm nhục người khác”.
Đề nghị áp dụng:
- - Điểm e khoản 2 Điều 155; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Phan Thị Phương T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
- - Khoản 1 Điều 155; điểm b, i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Nguyễn Thị T3 từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 của Phan Thị Phương T là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận nội dung truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về và làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 22/6/2023, tại tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, Phan Thị Phương T và Nguyễn Thị T3 đã có hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của chị Quách Thị Thanh B như: “bắt quỳ, dùng tay chân túm tóc, đánh vào mặt và người chị B”, chửi chị B là “con đĩ, ngu, đồ lăng loàn, mặt mày xấu vãi L ra” rồi dùng điện thoại di động hiệu IPHONE 13 của T để quay video. Sau khi sự việc kết thúc, T không bàn bạc gì với T3 mà tự mình gửi các video trên cho nhiều người khác khiến các video này bị phát tán, lan truyền trên xã hội Facebook. Hậu quả khiến chị B xấu hổ và tủi nhục phải nghỉ làm việc tại Công ty TNHH H5.
Hành vi, ý thức của các bị cáo Phan Thị Phương T và Nguyễn Thị T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm nhục người khác” tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015. Bản cáo trạng số 181/CT-VKSPY ngày 30/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo Phan Thị Phương T và Nguyễn Thị T3 về tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ. Nội dung điều luật như sau:
“Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:……
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội.”
[3] Về tính chất, mức độ hành vi: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi xảy ra sự việc các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đều được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, do đó các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ Luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị T3 hiện đang mang thai tuần thứ 15 nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Người phạm tội là phụ nữ có thai quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú cụ thể, ổn định, rõ ràng, sau khi phạm tội đã thật sự thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, nhất thời phạm tội, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội một phần do lỗi của bị hại. Xét thấy, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét vai trò các bị cáo trong vụ án, bị cáo Phan Thị Phương T là người thực hiện hành vi phạm tội tích cực nhất, bị cáo T3 chỉ phạm tội với vai trò thực hành theo sự chỉ đạo của bị cáo T, nên bị cáo T phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo T3. Do vậy, cần buộc bị cáo T phải chịu hình phạt tù, nhưng cho hưởng án treo. Đối với bị cáo T3 áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là tương xứng với mức độ, tính chất hành vi phạm tội. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị trong phần luận tội là phù hợp.
Về khấu trừ thu nhập đối với bị cáo T3 theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo T3 có hoàn cảnh khó khăn, hiện đã nghỉ việc, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử miễn việc khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Do bị cáo T3 đang mang thai ở tuần thứ 15 nên không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự.
[6] Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 của Phan Thị Phương T là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, tại phiên toà các bị cáo xác định đây là số tiền tự nguyện bồi thường thiệt hại về tinh thần cho bị hại. Chị Quách Thị Thanh B đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét.
[8] Án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước; Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Công S1, sinh năm 1996, trú tại, thôn A, xã Y, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc là người sử dụng Facebook có tên “Nguyễn Công S1” đã nhận được 02 video từ T ghi lại cảnh làm nhục chị B. Sau đó S1 có đăng bài và gửi chuyển tiếp video cho một số người, tuy nhiên trước khi gửi và đăng bài thì S1 đã chỉnh sửa, cắt ảnh và che mặt của chị B để mọi người xem không biết là ai, hơn nữa việc làm của S1 không có sự bàn bạc gì với T, S1 không biết chị B là ai và không có mục đích làm nhục chị B. Do vậy hành vi của S1 không cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an thành phố P xử lý hành chính theo quy định.
Đối với những người sử dụng Facebook có tên “Vũ Thiện”, “Đoàn Thu T3”, “Lại Thị N”, “Chị T6”, “Phan Trà M”, “Xiêm Xiêm”, “Hoài Hoài”, “Trang Em", “Huyền N2”. Quá trình điều tra xác định sau khi nhận được video ghi lại cảnh đánh và làm nhục chị B do T gửi thì những người này không lan truyền hay đăng tải video này cho ai nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm e Khoản 2 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phan Thị Phương T;
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 155, điểm b, i, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 36, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị T3;
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố:
1. Về hình phạt.
1.1. Xử phạt: Phan Thị Phương T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Làm nhục người khác”.
Giao bị cáo Phan Thị Phương T cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
1.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T3 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu hồng, đã qua sử dụng của Phan Thị Phương T.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 11 năm 2023 giữa Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Phan Thị Phương T và bị cáo Nguyễn Thị T3, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Xuân Lộc |
Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về làm nhục người khác
- Số bản án: 01/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Làm nhục người khác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: làm nhục người khác
