Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH


Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày: 03/01/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Trường.

Thẩm phán: Ông Cao Việt Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Minh Phương.
  2. Ông Nguyễn Bỉnh Quân.
  3. Ông Đinh Minh Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Khuyến – Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 125/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/2023/QĐXXST-HS ngày 19/12/2023 đối với bị cáo:

1. Hứa Văn Đ, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT: thôn C, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn L, sinh năm 1962 và bà Lộc Thị P, sinh năm 1963; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là Hứa Thị M, sinh năm 1994 và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2023; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam, Công an tỉnh B.

2. Giàng A C, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng Nhìa S và bà Sùng Thị L1 (đều đã chết); gia đình có 10 anh em, bị cáo là con thứ bảy; vợ là Vàng Thị V, sinh năm 1993 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2023; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam, Công an tỉnh B.

* Người bào chữa cho bị cáo Hứa Văn Đ (do chỉ định):Nguyễn Thị H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

* Người bào chữa cho bị cáo Giàng A C (do chỉ định):Nguyễn Hương T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B; có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

* Người làm chứng:

  1. Chị Lùng Thị C1, sinh năm 1980; trú tại: Tổ C, thị trấn Y, huyện Q, tỉnh Hà Giang; vắng mặt.
  2. Ông Võ Văn B, sinh năm 1962; trú tại: Xóm A - 10, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

* Người chứng kiến:

  1. Chị Lê Thị T1, sinh năm 1981; trú tại: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  2. Anh Đặng Văn Đ1, sinh năm 1990; trú tại: khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

  1. Ông Nguyễn Hữu B1, sinh năm 1983 – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  2. Cán bộ Trại tạm giam – Công an tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07h30' ngày 08/6/2023, tại đoạn đường L, khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B (PC04) phối hợp với Công an phường V bắt quả tang Hứa Văn Đ có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 túi xách du lịch màu xanh Đ đang đeo trên người, bên trong túi xách có 01 túi nilon màu đen, bên trong túi nilon màu đen có 01 túi nilon màu trắng chứa 03 bánh hình hộp chữ nhật được bọc ngoài bằng nhiều lớp nilon, trong cùng chứa chất bột màu trắng được niêm phong vật chứng trong 01 hộp giấy theo quy định. Ngoài ra, Cơ quan điều tra tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh lắp sim số 0369.670.194 và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen lắp sim số 0971.140.191 của Đ.

Trên cơ sở lời khai của Đ về ma túy bị thu giữ mua của Giàng A C và C đang đứng đợi Đ ở khu vực cổng khu đô thị H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để nhận tiền bán ma túy. Cơ quan điều tra đã dẫn giải và Đ đã chỉ rõ C. Cùng ngày 08/6/2023, cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Giàng A C. Thu giữ của C 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen lắp sim số 0332.063.879.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đ và C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số: 1218/KL-KTHS ngày 10/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

“Chất bột màu trắng bên trong 01 hộp giấy gửi giám định, có khối lượng 768,75 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine"

Quá trình điều tra, xác định: Hứa Văn Đ quen biết xã hội với Giàng A C, qua nói chuyện Chua cho Đ biết C có nguồn hàng ma túy H1 và nói với Đ biết chỗ nào tiêu thụ ma túy thì C mang về đưa cho Đ bán để hưởng chênh lệch. Khoảng tháng 5/2023, Đại liên 1 với C nói có người mua ma túy và bảo C có ma túy thì mang xuống đưa cho Đ bán, C đồng ý. Sau khi thống nhất với Đ, C liên lạc với một người đàn ông mang quốc tịch Lào (C không biết họ tên, lai lịch, địa chỉ cụ thể) đặt mua 03 bánh ma túy Heroine với giá 80 triệu đồng/01 bánh và hẹn giao hàng tại khu vực bến xe thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, khi nào C bán được ma túy thì trả tiền. Sau đó, C liên lạc với Đ và hẹn Đ đến bến xe thành phố L để nhận ma túy. Tại bến xe thành phố L, tỉnh Lạng Sơn Chua nhận 01 túi xách du lịch màu xanh, bên trong túi xách đựng 03 bánh ma túy Heroine rồi đưa lại cho Đ. Chua bán ma túy cho Đ với giá 150 triệu đồng/01 bánh, còn Đ bán được bao nhiêu sẽ được hưởng phần chênh lệch, khi nào Đ bán được ma túy thì trả tiền cho C. Sau khi nhận túi xách ma túy từ C, do chưa tìm được người mua ma túy, nên Đ mang ma túy về nhà cất giấu không người nào trong gia đình Đ biết, còn C đi về Điện Biên.

Đến đầu tháng 6/2023, có một người đàn ông tên C2 ở tỉnh Bắc Ninh (Đ không rõ tên tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể) hỏi mua của Đ 03 bánh ma túy Heroine với giá 160.000.000 đồng/01 bánh và hẹn giao ma túy vào sáng ngày 08/6/2023 tại đường L, khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Đại đồng ý và gọi điện thoại báo cho C biết có người mua ma túy, hẹn C xuống thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để nhận tiền sau khi Đ bán ma túy cho C2 xong. Khi Đ mang ma túy từ tỉnh Lạng Sơn xuống tỉnh Bắc Ninh để bán cho C2, nhưng chưa kịp bán ma túy thì Công an tỉnh B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng, niêm phong và thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy như đã nêu trên.

Tiến hành kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen, lắp sim số 0971.140.191, đăng ký chính chủ của Đ. Tại mục cuộc gọi có nhiều cuộc liên lạc với số 0332.063.xxx của C.

Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh, lắp sim số 0369.670.194 của Đ, tại mục cuộc gọi có nhiều cuộc liên lạc với số 0346.622.xxx của C2.

Kiểm tra điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen, lắp sim số 0332.063.879 của C, xác định đăng ký chính chủ của C. Tại mục danh bạ điện thoại Chua lưu là “E đạp - tức là số điện thoại của Đ”. Tại mục cuộc gọi và tin nhắn, có nhiều cuộc liên lạc với số điện thoại 0971.140.xxx và số 0369.670.194 của Đ.

Xác minh chị Lủng Thị C3 khai nhận: bản thân không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0369.670.xxx, không quen biết Hứa Văn Đ.

Xác minh số thuê bao 0346.622.937 Đ khai số của C2, chủ thuê bao là ông Võ Văn B, sinh năm 1962, hộ khẩu thường trú: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, ông B xác nhận bản thân không đăng ký và sử dụng số điện thoại 0346.622.xxx, không quen biết Hứa Văn Đ.

Tại Bản Cáo trạng số: 151/CT-VKSBN-P1 ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Hứa Văn ĐGiàng A C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Hứa Văn ĐGiàng A C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như cáo trạng đã quy kết là đúng người, đúng tội. Các bị cáo do hám lợi nên mua bán ma túy, các bị cáo biết sai, vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố; sau khi phân tích hành vi phạm tội, vai trò đồng phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Hứa Văn ĐGiàng A C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Giàng A C tù chung thân.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hứa Văn Đ tù chung thân.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo ĐC.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 túi xách; tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 03 điện thoại di động các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Nguyễn Thị H – Trợ giúp viên pháp lý phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Hứa Văn Đ: Nhất trí với quan điểm tranh luận của Viện kiểm sát đối với tội danh của bị cáo. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo đã hợp tác với cơ quan điều tra trong việc xác định C; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ cận nghèo; có bố tham gia dân quân, hội viên hội cựu chiến binh được tặng giấy khen, bà nội được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, do vậy đề nghị xem xét áp dụng t, s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử bị cáo mức án nhẹ nhất, miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo Đ.

Nguyễn Hương T – Trợ giúp viên pháp lý phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Giàng A C: Không có ý kiến gì về tội danh của bị cáo theo luận tội của VKS. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn 04 con nhỏ, do vậy đề nghị xem xét xử bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn để bị cáo sớm có cơ hội làm lại cuộc đời.

Các bị cáo Hứa Văn ĐGiàng A C đồng ý với quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý, không bổ sung gì thêm, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm tra điện thoại, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 07h30' ngày 08/6/2023, tại đường L, khu T, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường V bắt quả tang Hứa Văn Đ có hành vi bán trái phép 03 bánh ma túy, có khối lượng là 768,75 gam Heroine với giá 480.000.000 đồng để kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị Công an tỉnh B phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy. Căn cứ lời khai và chỉ dẫn của Đ xác định toàn bộ số ma túy Đại bán là mua của Giàng A C với giá 450.000.000 đồng. Do đó, có đủ căn cứ để xét xử Hứa Văn ĐGiàng A C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy còn là nguồn gốc dẫn tới nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, do vậy cần xử lý nghiêm các bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét vai trò đồng phạm, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX nhận thấy:

Vụ án thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó các bị cáo có vai trò ngang nhau, cùng mua ma túy về bán kiếm lời. Tuy nhiên, nguồn gốc ma túy Đại bán do C mua mà có, C cũng là người gợi ý cho Đ về việc bán ma túy kiếm lời và C cũng hưởng lợi nhiều hơn. Nên khi quyết định hình phạt cần xử phạt Chua mức hình phạt nghiêm khắc hơn Đ.

Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử cả 02 bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số; bị cáo Đ có bố tham gia dân quân, hội viên hội cựu chiến binh được tặng giấy khen, bà nội được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến nên cả 02 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng đối với bị cáo Hứa Văn Đ, sau khi bị bắt quả tang mua bán trái phép chất ma túy, đã khai và chỉ dẫn cho cơ quan điều tra xác định đúng và bắt được Giàng A C nên Đ còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

Do khối lượng ma túy bị cáo mua bán là đặc biệt lớn, căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số: 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì với lượng ma túy 600gam Heroine các bị cáo đã bị áp dụng mức hình phạt cao nhất là Tử hình. Tuy nhiên, các bị cáo đều có nhân thân tốt, căn cứ vai trò đồng phạm, các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần chiếu cố khoan hồng xử phạt Giàng A C mức hình phạt tù không thời hạn, xử phạt Hứa Văn Đ mức hình phạt tù có thời hạn nhưng ở mức cao nhất cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở công dân sống có ích cho xã hội.

Các bị cáo phạm tội với mục đích kiếm lời, nhưng các bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập, hoàn cảnh gia đình khó khăn, mua bán ma túy chưa được hưởng lợi nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định và 01 túi xách không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 03 điện thoại di động của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

[5] Liên quan trong vụ án: Đối với người đàn ông mang quốc tịch Lào theo lời khai của C là người đã bán ma túy cho C và người đàn ông tên C2 theo lời khai của Đ là người mua ma túy của Đ, nhưng C và Đ không biết tên, tuổi, lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên chưa có căn cứ để xác minh, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

Đối với chị Lủng Thị C4, ông Võ Văn B đứng tên chủ thuê bao số điện thoại 0369.670.xxx và số 0346.622.937, nhưng đều trình bày không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên, không quen biết Hứa Văn Đ, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là phù hợp.

[6] Về án phí: Bị cáo Giàng A C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; đối với bị cáo Hứa Văn Đại gia đ thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí cho bị cáo Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Hứa Văn ĐGiàng A C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt: Giàng A Chua tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2023.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt: Hứa Văn Đ 20 (hai mươi) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2023.

Quyết định tạm giam các bị cáo Giàng A CHứa Văn Đ mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh kèm 01 sim đã qua sử dụng của Đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen kèm 01 sim đã qua sử dụng của Đ; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo màu đen kèm 01 sim đã qua sử dụng của C.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì gián kín đựng mẫu vật còn lại sau giám định niêm phong còn nguyên vẹn, một mặt ghi chữ: Kính gửi Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh B (PC04). Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Hứa Văn Đ SN 1991 ở Co K, T, C, Lạng Sơn có hành vi mua bán trái phép chất ma túy kèm theo KLGĐ số 1218A/KL-KTHS ghi ngày 10/6/2023 của phòng KTHS - Công an tỉnh B và 01 túi xách (du lịch) bằng vải màu xanh.

(Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 20/2024 ngày 26/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

3. Về án phí: Bị cáo Giàng A C phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao;
  • - VKSND Cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh (PC04);
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; Luật sư; đương sự;
  • - Lưu HS; Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Trường

THÀNH VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Phương

Cao Việt Hoàng

Nguyễn Bỉnh Quân

Đinh Minh Hải

Nguyễn Trọng Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Hứa Văn Đ và Giàng A C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger