Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày 05-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thoan và bà Phùng Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Hoàng Giang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2023/HSST ngày 28/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 891/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Văn T; sinh ngày 08 tháng 5 năm 1981 tại huyện B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố G, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12 (không biết chữ); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Trọng C và bà Nguyễn Thị T1; Vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 và 03 người con (lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2019);

01 tiền án: Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 27/2011/HSST ngày 22/11/2011 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 07 năm 06 tháng tù về tội “Huỷ hoại rừng” theo điểm c khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự 1999; bị cáo chấp hành án tại Trại giam G1 đến ngày 31/8/2015 được đặc xá tha tù trước thời hạn; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Theo Lệnh trích xuất, Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q.

- Bị hại: Ban Q; địa chỉ: Thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình - Đại diện tham gia tố tụng: Ông Phạm Văn T2- Hạt trưởng Hạt kiểm lâm vườn Quốc gia P-K; có mặt

Ngoài ra còn có 17 bị cáo khác là đồng phạm trong cùng vụ án nhưng đã được tách và xét xử tại Bản án số: 26/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình; hiện nay bản án đã có hiệu lực pháp luật nên không triệu tập tham gia phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2018, Mai Văn D gặp Lê Văn T3 bàn bạc, thống nhất tổ chức khai thác gỗ Mun trái phép tại khu vực biên giới V - Lào thuộc xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Trước mỗi lần khai thác, Mai Văn D cho Lê Văn T3 ứng tiền để chuẩn bị lương thực, thực phẩm, vật dụng, trang thiết bị phục vụ việc khai thác gỗ. Sau khi khai thác gỗ thành khí theo quy cách, Lê Văn T3 giao gỗ cho Mai Văn D và tính gỗ Mun loại 01 giá 28.000.000 đồng/01 m³, loại 02 giá 25.000.000 đồng/01 m³.

Sau khi thống nhất với Mai Văn D, Lê Văn T3 gọi những người quen biết tổ chức khai thác gỗ trái phép tại các tiểu khu F và 650 do Ban Q quản lý thuộc địa phận xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Việc khai thác, cụ thể như sau:

* Lần thứ nhất: Vào khoảng tháng 7 năm 2018, Lê Văn T3 cùng với Trần Văn H1, Mai Kiên C1, Nguyễn Văn H2, Trần Đức D1, Trần Xuân V, Trần Phúc A, Nguyễn Xuân H3, Thái Văn L, Hoàng Văn T và Trần Đức B vào tiểu khu F khai thác trái phép 08 cây gỗ Mun sọc với khối lượng 8,668 m³; 04 cây gỗ các loại khác với khối lượng 1,871 m³. Trong đó, Lê Văn T3 và M Kiên C1 là người trực tiếp dùng máy cưa xăng của hạ những cây gỗ, cưa thành khí còn Hoàng Văn T và những người còn lại thì phát đường, tìm gỗ Mun, cùi gỗ ra tập kết tại đường B - Lào; gây thiệt hại 354.641.000 đồng

* Lần thứ hai: có 2 lượt khai thác:

- Lượt thứ 1: Vào khoảng tháng 10 năm 2018, Lê Văn T3 cùng với Trần Văn H1, Mai Kiên C1, Nguyễn Văn H2, Trần Đức D1, Trần Phúc A, Hoàng Văn H4, Nguyễn Trọng T4, Hoàng Văn T và Trần Đức B, tiếp tục vào tiểu khu F khai thác trái phép 05 cây gỗ Mun sọc với khối lượng 6,525 m³; 11 cây gỗ các loại khác với khối lượng 11,252 m³. Trong đó, Lê Văn T3 và M Kiên C1 là người trực tiếp dùng máy cưa xăng để cưa hạ những cây gỗ, cưa thành khí còn Hoàng Văn T và những người còn lại thì phát đường, tìm gỗ M1, cùi gỗ ra khu vực tập kết tại đường B - Lào. Trong lúc khai thác thì Lê Văn T3 bị cây đập vào người làm bị thương nên cả nhóm dừng khai thác và đưa T3 về nhà; gây thiệt hại 298.743.500 đồng.

- Lượt thứ 2: Khoảng tháng 11 năm 2018, thời gian này Lê Văn T3 ở nhà chữa bệnh, nhóm khai thác vẫn tiếp tục gồm: Trần Văn H1, Mai Kiên C1, Nguyễn Văn H2, Trần Đức D1, Trần Xuân V, Mai Văn B1, Trần Phúc A, Nguyễn Văn H5, Hoàng Văn H4, Hoàng Văn T và Trần Đức B vào khu vực tiểu khu F khai thác trái phép 13 cây gỗ Mun sọc với khối lượng 15,264 m³; 04 cây gỗ các loại khác với khối lượng 14,541 m³. Trong đó, Mai Kiên C1, Mai Văn B1 là người trực tiếp dùng máy cưa xăng để cưa hạ những cây gỗ, cưa thành khí còn Hoàng Văn T và những người còn lại thì phát đường, tìm gỗ Mun, cùi gỗ ra tập kết tại đường B - Lào; gây thiệt hại 641.468.600 đồng

* Lần thứ ba: Vào khoảng tháng 01 năm 2019, Lê Văn T3 cùng với Trần Văn H1, Mai Kiên C1, Nguyễn Văn H2, Trần Đức D1, Trần Xuân V, Mai Văn B1, Hoàng Văn H6, Mai Văn Đ, Hoàng Văn T và Trần Đức B vào tiểu khu F khai thác trái phép 19 cây gỗ Mun sọc với khối lượng 29,774 m³ ; 08 cây gỗ các loại khác với khối lượng 13,355 m³. Trong đó, Lê Văn T3, Mai Kiên C1, Mai Văn B1 là người trực tiếp dùng máy cưa xăng để cưa hạ những cây gỗ, cưa thành khí còn Hoàng Văn T và những người còn lại thì phát đường, tìm gỗ Mun, cùi gỗ ra tập kết tại đường B - Lào; gây thiệt hại 1.228.997.500 đồng

Sau mỗi lần khai thác, gỗ được đưa ra đường biên giới V1 - Lào tập kết đo đếm giao cho Mai Văn D chở đi cất giấu. Sau đó, Lê Văn T3 đến nhà Mai Văn D tính toán lấy tiền, tổng số tiền của tất cả các lần là khoảng 550.000.000 đồng và Lê Văn T3 chia đều theo từng lần khai thác cho những người tham gia.

Ngày 09/4/2019, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Q có Kết luận giám định số 363/KL-GĐ-KL, kết luận: Rừng bị khai thác là rừng tự nhiên, chức năng là rừng đặc dụng, trạng thái rừng là rừng trung bình trên núi đá vôi. Khu vực bị khai thác: Tiểu khu F và 650 thuộc quản lý của Ban Q hành chính xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình.

Tổng khối lượng lâm sản bị khai thác trái phép: 72 gốc (có 45 gốc Mun) nhóm I; Khối lượng: 101,25 m³, trong đó: Gỗ Mun: 60,231 m³; Các loài gỗ khác khối lượng: 41,019 m³. Tổng khối lượng còn lại tại hiện trường: 86,520 m³, trong đó: Gỗ Mun: 45,501 m³. Tổng khối lượng gỗ đã bị lấy khỏi hiện trường: Gỗ Mun: 14,730 m³.

Tên loài, nhóm loài và đặc điểm gỗ bị khai thác trái phép: Có tổng số 72 cây gỗ bị khai thác trái phép, gồm 12 loài; tổng khối lượng 101,250 m³, tương ứng với 72 mẫu gỗ như sau:

  1. Loài thứ nhất: Tên gỗ: Mun sọc, nhóm I; số lượng: 45 cây; khối lượng: 60,231 m³.
  2. Loài thứ hai: Tên gỗ: Táu mật, Nhóm II, số lượng: 11 cây; khối lượng: 6,908 m³.
  3. Loài thứ ba: Tên gỗ: Bời lời, nhóm IV; số lượng: 02 cây; khối lượng: 2,215 m³.
  4. Loài thứ tư: Tên gỗ: Thông nàng, nhóm IV; số lượng: 01 cây; khối lượng: 0,528 m³.
  5. Loài thứ năm: Tên gỗ: Giẻ đỏ, nhóm V; số lượng: 01 cây; khối lượng: 0,476 m³.
  6. Loài thứ sáu: Tên gỗ: Nang, nhóm V; số lượng: 03 cây; khối lượng: 2,78 m³.
  7. Loài thứ bảy: Tên gỗ: Nhội, nhóm VI; khối lượng: 13,391 m³.
  8. Loài thứ tám: Tên gỗ: Chò nhai, nhóm VI; Số lượng: 01 cây; khối lượng: 1,024 m³.
  9. Loài thứ chín: Tên gỗ: Sâng, nhóm VI; số lượng: 03 cây; Khối lượng: 11,365 m³.
  10. Loài thứ mười: Tên gỗ: Ràng ràng, nhóm VI; Số lượng: 01 cây; khối lượng: 0,803 m³.
  11. Loài thứ mười một: Tên gỗ: Trám trắng, nhóm VII; Số lượng: 01 cây; Khối lượng: 0,312 m³.
  12. Loài thứ mười hai: Tên gỗ: D2, nhóm VIII; Số lượng: 02 cây; khối lượng: 0,907 m³.

Chế độ quản lý: Mun sọc là thực vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA, theo quy định tại Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.

Các loài thứ hai đến loài thứ mười hai gồm: Táu mật, Bời lời, T5 nàng, G đỏ, N, N1, C2 nhai, S, Ràng ràng, T6, D2 (là gỗ từ nhóm II đến nhóm VIII không thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm) theo quy định tại Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 của Bộ L1 (nay là Bộ N2) về việc ban hành phân loại các loại gỗ sử dụng thống nhất trên cả nước.

Ngày 17/6/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận giá trị thiệt hại của 72 cây gỗ bị khai thác trái phép là 2.523.850.600 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Văn T bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra quyết định truy nã sau đó tách vụ án và tạm đình chỉ điều tra, đến ngày 23/10/2023 bị cáo ra đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Hoàng Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường cũng như lời khai của các bị cáo khác (đã được xét xử tại bản án số 26/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong vụ án.

Về vật chứng vụ án:

- Cơ quan điều tra đã tạm giữ số vật chứng sau: 01 xe ô tô BKS 29A-732.14, nhãn hiệu TOYOTA, số loại LANDCRUISER; 01 máy cưa xăng, hiệu STIHL MS 381; 01 tuốc lộ vít dài 20 cm; 01 chụp vặn Bôri máy cưa xăng; 02 thước hộp loại 5 m; 02 điện thoại di động gồm 01 điện thoại NOKIA đen trắng và 01 điện thoại cảm ứng SAMSUNG NOTE5; 154 hộp gỗ Mun sọc có khối lượng 9,065 m³.

- Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia P - K thu giữ tại hiện trường tiểu khu F và 650 gồm: Một số đinh sắt; 10 chiếc dép rọ làm bằng nhựa; 02 can làm bằng nhựa loại 05 lít, 01 can loại 1,5 lít và 01 can loại 02 lít; 01 bình nhựa có ký hiệu HP, 01 dao tông làm bằng sắt, đã gỉ, dài 40 cm, không có cán; 03 xoong nhôm to nhỏ các loại, không có nắp; 01 chảo và một số dụng cụ (bát, hộp đựng gia vị); 01 đoạn dây dù; 01 áo phong màu đỏ; 01 quần bò cắt lửng; 01 quần đùi vải màu đen; 01 can loại 20 lít màu hồng; một số áo quần cũ; 03 can nhựa màu xanh loại 30 lít; 01 bình nhựa bên trong có chứa dung dịch nhớt dùng để pha xăng, còn 1/3 bình; 03 cái kìm sắt; 02 xoong; 01 ấm; 01 ba lỗ đã cũ; 01 cái bát; 01 chai dầu rửa bát ; 01 nắp dùng đậy hộp nhựa; 01 xích cưa; 01 đôi dép nhựa màu đen.

- 01 quyển sổ nhật trình năm 2018 được đánh số thứ tự từ trang 01 đến 111.

Các vật chứng nêu trên đã được xử lý tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 26/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (đã có hiệu lực pháp luật).

Cáo trạng số: 87/CT-VKS-P3 ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm e khoản 3 điều 232 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa:

+ Bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống như nội dung cáo trạng đã truy tố và không tranh luận gì thêm.

+ Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 232, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 54; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn T mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù và buộc bị cáo Hoàng Văn T phải liên đới bồi thường theo phần số tiền 192.532.824 đồng cho bị hại, nhưng được trừ đi số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo đã tự nguyện nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình nhằm khắc phục hậu quả; buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Đối với các vật chứng có liên quan đến vụ án đã được xử lý tại Bản án số 26/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình nay đã có hiệu pháp luật, nên đề nghị không xem xét gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh gia đình, nhận thức pháp luật còn hạn chế, phạm tội với vai trò thứ yếu và mong được sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Vụ án này được tách ra từ vụ án Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản xảy ra tại Vườn Quốc Gia P - K năm 2018 - 2019 theo Quyết định tách vụ án hình sự số 02/PC03 ngày 26/03/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q (đã hoàn thành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử). 17 bị cáo trong vụ án (trừ bị cáo Hoàng Văn T do bỏ trốn) đã được xét xử tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 26/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình (đã có hiệu lực pháp luật).

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các lời khai của các bị cáo khác; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận giám định; kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian năm 2018-2019, bị cáo T cùng 17 bị cáo khác đã 03 lần, (trong đó lần thứ 02 có hai đợt) thực hiện hành vi khai thác rừng trái phép tại tiểu khu F và 650 do Ban Q quản lý thuộc địa phận xã T, huyện B, tỉnh Quảng Bình với tổng khối lượng lâm sản bị khai thác trái phép: 72 gốc (có 45 gốc Mun) nhóm I; Khối lượng: 101,25 m³, trong đó: Gỗ Mun: 60,231 m³; Các loài gỗ khác khối lượng: 41,019 m³. Tổng khối lượng còn lại tại hiện trường: 86,520 m³, trong đó: Gỗ Mun: 45,501 m³. Tổng khối lượng gỗ đã bị lấy khỏi hiện trường: Gỗ Mun: 14,730 m³ có tổng trị theo kết luận định giá là 2.523.850.600.

Với hành vi đã thực hiện như trên của bị cáo và các đồng phạm khác đã vi phạm chế độ quản lý thực vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IIA, theo quy định tại Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, cho nên đã thỏa mãn các yếu tố cầu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị truy tố, xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, bị cáo T và 17 bị cáo khác cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, nhưng khi thực hiện hành vi giữa các bị cáo không có sự phân công bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có tổ chức; trong đó bị cáo T chỉ có vai trò thứ yếu so với các bị cáo khác.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng bản thân bị cáo là người không biết chữ, nên nhận thức pháp luật còn có hạn chế.

- Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo đã 03 lần thực hành vi phạm tội và các lần thực hiện hành vi phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập, cho nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 27/2011/HSST ngày 22/11/2011 của Toà án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum đã xử phạt bị cáo T mức án 07 năm 06 tháng tù về tội “Huỷ hoại rừng” theo điểm c khoản 3 Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 và bị cáo chấp hành bản án trên và được đặc xá tha tù trước thời hạn vào ngày 31/8/2015. Tuy nhiên, đến tháng 7/2018 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý trong thời gian chưa được xóa án tích do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã bỏ trốn nhưng đã tự nguyện ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn trong khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; tác động gia đình nộp tiền nhằm khắc phục một phần thiệt hại; bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn có những hạn chế. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Bộ luật hình sự

[4] Về hình phạt: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, quy định của nhà nước trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ rừng; bản thân bị cáo đã bị xử phạt tù về cùng hành vi khai thác lâm sản trái phép và đã chấp hành bản án, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội mới, điều đó thể hiện thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian, tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra mới có đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo.

Tuy nhiên, xét thấy vai trò của bị cáo trong vụ án này chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn, có vai trò thứ yếu, chỉ là người làm thuê gùi gỗ và nhận lương theo chỉ đạo của bị cáo Lê Văn T3, bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; sau khi phạm tội đã ra đầu thú, khắc phục một phần hậu quả và bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt mức án dưới khung hình phạt bị truy tố, xét xử theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là tương xứng với vai trò vị trí của bị cáo so với các bị cáo khác trong vụ án; đồng thời phù hợp với mức án đã xét xử đối với các bị cáo giữ vai trò chính yếu theo Bản án số 26/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã có hiệu lực pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Văn T tham gia 03 lần tham gia khai thác gỗ cùng với các bị cáo khác, trong đó có 01 lần tham gia 02 đợt; gây thiệt hại cụ thể và được phân chia nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm bồi thường đã được xác định tại Bản án số 26/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình cụ thể như sau:

  • Lần 01: Gồm có bị cáo T và 11 bị cáo khác cùng 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gây thiệt hại trị giá 354.641.000 đồng; do đó về trách nhiệm dân sự được chia thành 13 phần bằng nhau; trong đó bị cáo T phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường theo phần với số tiền là 27.280.077 đồng.
  • Lần 02 (02 đợt):
    • + Đợt 01: Gồm bị cáo T và 10 bị cáo khác cùng 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gây thiệt hại trị giá 298.743.500 đồng; do đó về trách nhiệm dân sự được chia thành 12 phần bằng nhau; trong đó bị cáo T phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường theo phần với số tiền là 24.895.291 đồng.
    • + Đợt 02: Gồm bị cáo T và 13 bị cáo khác cùng 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gây thiệt hại trị giá 641.468.600 đồng; do đó về trách nhiệm dân sự được chia thành 14 phần bằng nhau; trong đó bị cáo T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường theo phần với số tiền là 45.819.186 đồng.
  • Lần 03 gây thiệt hại: Gồm có bị cáo T và 11 bị cáo khác cùng 01 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gây thiệt hại trị giá 1.228.997.500 đồng; do đó về trách nhiệm dân sự được chia thành 13 phần bằng nhau; trong đó bị cáo T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường theo phần với số tiền là 94.538.296 đồng;

Như vậy, tổng số tiền bị cáo phải có nghĩa vụ liên đới bồi thiệt hại theo phần cho Vườn Quốc gia P - K là 192.532.824 đồng để sung công quỹ Nhà nước; nhưng được khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng bị cáo đã nộp và buộc bị cáo còn phải có nghĩa vụ bồi thường tiếp số tiền còn thiếu.

[6] Về xử lý vật chứng: Toàn bộ vật chứng có liên quan đến vụ án đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2020/HS-ST ngày 27/8/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình và đã có hiệu lực pháp luật, cho nên Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.

[7] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm e khoản 3 Điều 232; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 54; các Điều 17, 58 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự 2015; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 3 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử,

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 03 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (23/10/2023).

Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Văn T với thời hạn 45 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử sơ thẩm để đảm bảo thi hành án

  1. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại theo phần cho Vườn Quốc gia P - K số tiền 192.532.824 đồng; nhưng được khấu trừ số tiền 5.000.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tiền số 0004753 ngày 20/12/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình; còn lại phải bồi thường tiếp số tiền 187.532.824 đồng cho Vườn Quốc gia P - K để nộp sung ngân sách Nhà nước.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 9.376.641 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000 nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
  2. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh QB;

- VKSND tỉnh QB;

- Sở Tư pháp tỉnh QB;

- Phòng PV 06 CA tỉnh QB;

- Cục THADS tỉnh Quảng Bình;

- Bị cáo, Bị hại;

- Lưu: HSVA, VP, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Trung Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn Thiết bị xét xử về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản - điểm e, khoản 3, Điều 232 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger