Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU ĐỨC

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 01/2024/HS-ST

Ngày: 03/01/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hạnh

Ông Trịnh Hữu Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hồng P – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 128/2023/TLST-HS ngày 07/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2023/QĐXXST- HS ngày 29/11/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/HSST-QĐ ngày 13/12/2023, đối với các bị cáo:

  1. Trần Bạch L, tên gọi khác: Ba T, sinh năm 1991 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Trần Văn T1, sinh năm 1951 (chết), Mẹ: Nguyễn Thị P1, sinh năm 1948; Bị cáo có vợ là Liên Thị Bích T2 (đã ly hôn) và 01 con (sinh năm 2014); Tiền án 01: Tại bản án số 92/2019/HSST ngày 13/11/2019 Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xử phạt 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 18/3/2020 tại bản án số 20/2020/HSST bị Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt chung là 44 tháng tù. Ngày 09/11/2022 chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: Không;

    Nhân thân: Tại bản án số 752/2009/HSPT ngày 23/9/2009 Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/6/2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C (Có mặt).

  2. Nguyễn Thành Đ, tên gọi khác: Không, sinh năm 1985 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Thành G, sinh năm 1964, Mẹ: Mai Thị B, sinh năm 1965; Bị cáo có vợ là Trần Thị Ngọc P2, sinh năm 1985 và 02 con (sinh năm 2008 và năm 2012); Tiền án, Tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 18/5/2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C (Có mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Trần Thị Ngọc P2, sinh năm 1985; HKTT: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Có mặt)
    2. Bà Trương Thị Mỹ N, sinh năm 1985; HKTT: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt)
    3. Ông Trương Minh H, sinh năm 1995; HKTT: Thôn T, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt)
    4. Ông Trần Việt B1, sinh năm 1985; HKTT: Thôn S, xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/5/2023, tại khu vực Vòng xoay thuộc thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Công an huyện C phát hiện bắt quả tang đối tượng Nguyễn Thành Đ có hành vi "Mua bán trái phép chất ma túy". Từ lời khai của Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C triệu tập Trần Việt B1 là người hỏi mua ma túy của Đ để điều tra. Tang vật thu giữ gồm: 01 bịch nylon màu đen bên trong có 02 bịch nylon màu trắng (gồm 01 bịch lớn và 01 bịch nhỏ) được dán kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt, Nguyễn Thành Đ khai là ma túy đá; 01 điện thoại di động hiệu S A032S màu xanh có số thuê bao 0931222526, số IMEL 351574189098162; 01 xe mô tô hiệu Dream, biển số 72F2 - 5560, số máy C100ME0116219.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thành Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau: Vào khoảng 08 giờ ngày 18/5/2023, khi Đ đang ở Thẩm mỹ viện D thuộc khu phố H, thị trấn N, huyện C thì Trần Việt B1 gọi vào số điện thoại 0931.222.xxx của Đ hỏi mua 01 bịch ma túy đá với giá là 3.000.000 đồng. Do không có số ma túy đá nên Đ nói với B1 là để gọi cho người bán hỏi có "đồ" (ma túy đá) không rồi sẽ gọi lại sau. Đ dùng tài khoản Zalo của tên "Nguyễn Thành Đ" điện thoại vào tài khoản Zalo "Ba Tô" của Trần Bạch L hỏi có "đồ" không để cho anh B1 3.000.000 đồng (nghĩa là bán cho B1 3.000.000 đồng ma túy đá). L hỏi "có tiền không" thì Đ nói "khi nào người ta đưa tiền thì tôi sẽ đưa". L đồng ý. Khoảng 45 phút sau, có một thanh niên (không rõ lai lịch) điều khiển xe mô tô hiệu Exciter màu đỏ đen (không biết biển số) đến đưa cho Đ 01 bịch nylon màu đen (bên trong có 03 bịch ma túy đá và nói "của anh Ba T đưa"). Đ cầm bỏ vào túi quần rồi lấy chiếc nỏ thủy tinh và chai nước suối làm thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đi sang miếng đất kế bên để sử dụng ma tuý. Khoảng 11 giờ cùng ngày, B1 gọi vào số 0931222526 của Đ hỏi "có đồ (ma túy đá) chưa", Đ hẹn B1 đến Vòng xoay N để giao dịch mua bán ma tuý. Khoảng 30 phút sau Đ mang theo 02 bịch ma túy đá điều khiển xe mô tô biến số 72F2-5560 đi đến điểm đã hẹn để bán ma túy cho B1, nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang và thu giữ số tang vật trên.

Qua trình điều tra, Nguyễn Thành Đ và Trần Việt B1 khai nhận trước ngày 18/5/2023 khoảng 01 tuần Đô có bán ma túy cho B1 01 lần. Cụ thể như sau: Trần Việt B1 gọi vào số 0931222526 của Đ nhờ mua giùm cho Bắc 3.000.000 đồng tiền ma túy đá, Đ đồng ý. Bắc đến chỗ làm của Đ và đưa cho Đ số tiền là 3.000.000 đồng, khi nào có ma túy thì sẽ lấy. Đ điện thoại Z cho Trần Bạch L để hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy đá, L đồng ý. Sau đó có một thanh niên (không rõ lai lịch) mang ma túy đến giao cho Đ.

Tại Kết luận giám định số 201/KL-KTHS-MT ngày 26/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: "Mẫu A gửi đến giám định có khối lượng 4,5518 gam, là ma túy, loại Methamphetamine" (Bút lục số 55).

Từ lời khai của Nguyễn Thành Đ về hành vi của Trần Bạch L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã mở rộng điều tra. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, tại chòi nhà bà Lê Thị H1 thuộc tổ A, thôn Q, xã Đ, huyện C. Công an huyện C đã bắt quả tang Trần Bạch L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích mua bán. Tại thời điểm bắt quả tang L còn có Trương Minh H, sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã S, huyện C.

Tang vật thu giữ gồm: 05 bịch nylon màu trắng được dán kín bên trong có chứa chất tinh thể không màu trong suốt, được thu giữ trong tay trái của Trần Bạch L. Một điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng, có số thuê bao 0868148109, số IMEI 352982091414147 của L. Một điện thoại di dộng hiệu Masstel màu đen, có số thuê bao 0386628896, số IMEI 3586692484335831 của H. Một xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ, đen biển số 71F1-74390, số máy 5B96080554 của H. Số tiền 200.000 đồng thu giữ của H. 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa màu trắng nắp màu đỏ, 01 ống nhựa hút nước và 01 chiếc nỏ thủy tinh.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Trần Bạch L khai nhận hành vi phạm tội của mình như sau:

Vào trưa ngày 07/6/2023, Trần Bạch L gọi điện thoại cho "T3 đầu bự" (không rõ họ tên, địa chỉ) để nhờ mua 1.800.000 đồng ma túy đá, "T3 đầu bự" đồng ý. Khoảng 13 giờ cùng ngày, "T3 đầu bự" điều khiển xe mô tô hiệu Winner màu đỏ (không rõ biển số xe) đến nhà L lấy 1.800.000 đồng để đi mua ma túy còn L đi đến chòi nhà bạn gái Nguyễn Thị Thanh T4, sinh năm 1995 tại tổ A, thôn Q, xã Đ, huyện C, (gần trường THPT N1) để thăm con. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, "Thắng đầu bự" đưa ma túy cho L ở khu vực gần trường THPT N1 rồi L chiết ra một ít ma túy để sử dụng.

Vào khoảng 18 giờ đến 19 giờ cùng ngày, tại khu vực gần trường THPT N1, L bán 01 bịch ma túy cho đối tượng tên "Bé Ba" với giá là 200.000 đồng và bán cho một đối tượng (không biết họ tên) 01 bịch ma túy đá với giá là 200.000 đồng. Sau khi bán xong thì L đem cất giấu bịch ma túy đá bên ngoài chòi.

Ngày 08/6/2023, ở khu vực gần trường THPT N2 bán cho đối tượng "Lý Định" 01 bịch ma túy với giá là 200.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Trương Minh H gọi vào 0868148109 của L hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá, L đồng ý và hẹn H đến khu vực gần trường THPT N1 để bán ma túy nhưng H xin nợ tiền và hẹn L ngày 09/6/2023 sẽ trả tiền. Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, khi lực lượng Công an đến kiểm tra bắt giữ L, thì Trương Minh H đến tìm L để trả nợ tiền mua ma túy nên bị bắt giữ các tang vật chứng trên.

Ngoài ra, L đã bán ma túy cho "Bé Ba" khoảng 03-04 lần, mỗi lần bán 01 bịch ma túy đá với giá là 200.000 đồng; bán cho "Lý Định" khoảng 03 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy đá với giá là 200.000 đồng; đã bán cho Trương Minh H khoảng 04 lần, mỗi lần 01 bịch ma túy đá với giá là 200.000 đồng. L còn bán cho một số đối tượng không rõ họ tên.

L bán ma túy cho Nguyễn Thành Đ nhiều lần; trong đó có 02 lần L bán cho Đ 01 bịch ma túy đá với giá là 3.000.000 đồng, cụ thể như bị cáo Đ đã thừa nhận ở trên.

Tại Kết luận giám định số 348/KL-KTHS-MT ngày 12/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu A có khối lượng 0,6316 gam, là ma túy, loại Methamphetamine (Bút lục số 175).

Tang vật thu giữ của hai lần gồm: 01 phong bì niêm phong được đánh số 201 ngày 26/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, 01 phong bì niêm phong được đánh số 348 ngày 12/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B. 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A032S màu xanh có sô thuê bao 0931222526, số IMEL 351574189098162. 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu trắng, có số thuê bao 0868148109, SỐ IMEI 352982091414147. 01 điện thoại di dộng hiệu Masstel màu đen, có số thuê bao 0386628896, số IMEI 3586692484335831. 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa màu trắng nắp màu đỏ. 01 ống nhựa hút nước và 01 chiếc nỏ thủy tinh và số tiền Việt Nam 200.000 đồng.

Toàn bộ vật chứng nêu trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức chờ xử lý.

Đối với: 01 xe mô tô hiệu Dream màu nâu, biển số 72F2 – 5560 và 01 xe mô tô hệu Yamaha Jupiter, màu đỏ đen, biển số 72F1 – 74390 đã thu giữ. Cơ quan điều tra đã xác minh nguồn gốc thể hiện: Xe mô tô biển số 72F2 – 5560 là tài sản của bà Trần Thị Ngọc P2 (vợ của Đ); Xe mô tô biển số 72F1 – 74390 là tài sản của bà Trương Thị Mỹ N (do em Trương Minh H sử dụng). Việc sử dụng xe vào việc vi phạm bà P2, bà N không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại hai chiếc xe trên (Bút lục số 66, 181).

Đối với Trương Minh H, Trần Việt B1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 18/5/2023 và ngày 09/6/2023 đã bị Công an huyện C ra quyết định xử phạt hành chính về hành này.

Đối với các đối tượng có biệt danh “T3 đầu bự“, “Bé Ba“, “Lý Định“, “Cu “, “ Tý“ hiện Cơ quan điêu tra đang xác minh, khi làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Thị Thanh T4 (Bạn bị cáo L), khi L cất ma túy và sử dụng ma túy ở chòi của T4 nhưng T4 không biết việc trên và không tham gia, nên không có cơ sở để xử lý T4.

Tại bản cáo trạng số 126/CT-VKS- CĐ ngày 07/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức đã truy tố Trần Bạch L, Nguyễn Thành Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Trong quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa hôm nay, trên cơ sở việc xét hỏi và tranh luận công khai: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Bạch L, Nguyễn Thành Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Bạch L từ 10 năm đến 11 năm tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy số ma túy được niêm phong trong các phong bì ký hiệu số 201, số 348 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; tịch thu sung công 01 điện thoại hiệu Samsung, 01 điện thoại hiệu Iphone, 01 điện thoại hiệu Masstel và 200.000 đồng.

Ý kiến của các bị cáo và lời nói sau cùng: Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm, chỉ đề đạt Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và đã được công bố tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; biên bản quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận:

    Do nghiện ma túy nên Nguyễn Thành Đ biết Trần Bạch L có bán ma túy. Khi đối tượng Trần Việt B1 hỏi mua ma túy thì Đ liên hệ L để mua. Đ đã một lần mua 3.000.000 đồng ma túy của L để bán cho B1, đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/5/2023, tại khu vực Vòng xoay thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, khi Đ mang theo 4,5518 gam ma túy, loại Methamphetamine để bán cho Trần Việt B1 thì bị lực lượng Công an huyện C bắt quả tang.

    Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, tại chòi nhà bà Lê Thị H1 thuộc tổ A, thôn Q, xã Đ, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cơ quan điều tra Công an huyện C bắt quả tang Trần Bạch L tàng trữ 0,6316 gam ma túy, loại Methamphetamin nhằm mục đích mua bán.

    Quá trình điều tra, bị cáo L thừa nhận đã bán may túy cho đối tượng “Bé Ba” được khoảng 03-04 lần, mỗi lần 200.000 đồng; Bán cho “Lý Định” khoảng 03 lần, mỗi lần 200.000 đồng; Bán cho Trương Minh H khoảng 04 lần, mỗi lần 200.000 đồng; Bán cho Nguyễn Thành Đ nhiều lần, trong đó có 02 lần bán cho Đ bịch ma túy đã với giá 3.000.000 đồng. Bị cáo Đ thừa nhận tham gia bán ma túy cho B1 02 lần, trong đó ngày 18/5/2023 bị bắt quả tang.

    Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Bạch L, Nguyễn Thành Đ đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

  3. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra: Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất độc gây nghiện ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và nòi giống của con người, là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn và các tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

    Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vì mục đích muốn có tiền tiêu xài đã bất chấp và phạm tội nên phải xử lý thật nghiêm.

  4. Xét vai trò của các bị cáo:

    Bị cáo L là người có nguồn ma túy và hai lần bán ma túy cho bị cáo Đ; Bị cáo Đ khi có người hỏi mua ma túy thì liên hệ ngay với L để mua mang về bán lại kiếm lời. Ngoài các lần bán cho Đ thì bản thân L còn bán cho các đối tượng nghiện khác, nên L chịu trách nhiệm cao hơn Đ.

    Bản thân các bị cáo đều là người nghiện ma túy nhiều năm, trong đó bị cáo L không nghề nghiệp. Vì vậy, cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian đủ dài nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm chung.

  5. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

    Tình tiết tăng nặng: Bị cáo L là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về các tội xâm phạm đến sức khỏe của người khác; kết án về tội phạm ma túy, chưa được xóa án tích nay lại phạm tội, thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo Đ không có tình tiết tăng nặng,

    Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo L đã tự thú các lần phạm tội trước đó; Bị cáo Đ là người đã có thời gian tham gia trong quân ngũ, trong thời gian này được ghi nhận và Chủ tịch nước tặng thưởng “Huy chương chiến sĩ vẻ vang”, thời gian sau khi xuất ngũ về tham gia lực lượng phòng, chống tội phạm tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51 cho bị cáo L; áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo Đ.

  6. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả hai bị cáo.

  7. Về xử lý vật chứng: Đối với 02 xe mô tô thu giữ hiện Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu là đúng quy định; Cần tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ trong vụ án và bộ D sử dụng ma túy; tịch thu sung công 03 điện thoại di động (01 điện thoại Samsung, 01 điện thoại Iphone, 01 điện thoại hiệu Masstel) và số tiền 200.000 đồng.

  8. Đối với Trương Minh H, Trần Việt B1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 18/5/2023 và ngày 09/6/2023 đã bị Công an huyện C ra quyết định xử phạt hành chính về hành này. Đối với các đối tượng có biệt danh “T3 đầu bự“, “Bé Ba“, “Lý Định“, “Cu“, “ Tý“ hiện Cơ quan điều tra đang xác minh, khi làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với Nguyễn Thị Thanh T4 do không biết L mang ma túy đến quán và T4 không tham gia sử dụng, nên không có cơ sở để xử lý T4 là phù hợp.

  9. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  10. Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Bạch L (B), Nguyễn Thành Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Bạch L (B) 11 (Mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/6/2023.

  2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/5/2023.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

    - Tịch thu tiêu hủy:

    • + 01 gói niêm phong, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định được đánh số 201 ngày 26/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh B.
    • + 01 gói niêm phong, bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định được đánh số 348 ngày 12/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B.
    • + 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, 01 ống nhựa hút nước và 01 chiếc nỏ thủy tinh.

    - Tịch thu sung công:

    • + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A032S màu xanh, số imei: 351574189098162, có gắn 01 thẻ sim có dãy số trên sim 8401220792178173.
    • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu trắng, số imei: 352982091414147, có gắn 01 thẻ sim có dãy số trên sim 8984048000331161117.
    • + 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen, số imei: 358069248335831, có gắn 01 thẻ sim có dãy số trên sim 8984048000915488705.
    • + Tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 12/12/2023.

    (Vật chứng lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2023)

  4. Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Bạch L, Nguyễn Thành Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm (Người vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết)./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND; VKSND tỉnh BRVT;

- VKSND, Công an huyện Châu Đức;

- Phòng PC 10; Phòng PV 06

Công an tỉnh BRVT;

- THADS huyện Châu Đức;

- Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;

- Bị cáo; người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 01/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy Long Đô
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger