Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ T

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 10 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Khắc Kiếm

Bà Nguyễn Thị Loan

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 321/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 07 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị L, sinh năm 1996;

Nơi ĐKNKTT: Phố Q, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện nay: Bản Lầu, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1990

Địa chỉ: Phố Q, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà có mặt anh H, vắng mặt chị L. Chị L đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/07/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hà Thị L trình bày: Chị và anh Lê Văn H kết hôn tự nguyện, đăng ký ngày 03/07/2014 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã H (nay là phường L), thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 10 năm, đến đầu năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, do anh H chơi bời, không chịu làm ăn, luôn rượu chè say xỉn về nhà chửi bới vợ con. Mâu thuẫn trầm trọng kể từ tháng 6/2024. Chị về nhà bố mẹ đẻ tại bản Lầu, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa để ở, vợ chồng chị sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con cái: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Lê Thị Vân A, sinh ngày 22/06/2015, cháu Lê Văn M, sinh ngày 31/03/2017 và cháu Lê Thị Yến N, sinh ngày 14/02/2022. Hiện nay hai cháu Vân A và M đang ở cùng anh H tại phố Q, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, cháu Yến N đang ở với chị tại bản Lầu, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Yến N, giao cháu Vân A và M cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, chị và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ chung: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên toà, bị đơn là anh Lê Văn H trình bày: Về ngày kết hôn, nơi đăng ký kết hôn đúng như nguyên đơn trình bày. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng cũng có những va chạm nhỏ nhặt thường ngày. Nhưng mâu thuẫn vợ chồng không đến mức trầm trọng. Chị L tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại bản Lầu, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa để ở. Anh mong muốn cả hai bỏ qua những lỗi lầm của nhau, đoàn tụ về tiếp tục chung sống để cùng nhau làm ăn, nuôi dạy con cái. Nếu chị L vẫn cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn theo như yêu cầu khởi kiện của chị L.

Về con cái: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Lê Thị Vân A, sinh ngày 22/06/2015, cháu Lê Văn M, sinh ngày 31/03/2017 và cháu Lê Thị Yến N, sinh ngày 14/02/2022. Hiện nay hai cháu Vân A và M đang ở cùng anh tại phố Q, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, cháu Yến N đang ở với chị L tại bản Lầu, xã S, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng Toà án giao cháu Yến N cho chị L, giao cháu Vân A và M cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung, anh yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu M mỗi tháng là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ tháng 11/2024 cho đến khi cháu Mạnh thành N1.

Về tài sản, công nợ chung: Anh H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị L, anh H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho chị Hà Thị L được ly hôn anh Lê Văn H. Giao cháu Yến N cho chị L, giao cháu Vân A và M cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu M mỗi tháng là 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) kể từ tháng 11/2024 cho đến khi cháu Mạnh thành N1.

Theo ý kiến trình bày của hai bên đương sự: Chị L và anh H thống nhất được về phần hôn nhân, giao nuôi con, không thống nhất được về phần cấp dưỡng, không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Hà Thị L đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị L.

[2] Về hôn nhân: Chị Hà Thị L và anh Lê Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 03/07/2014 tại xã H (nay là phường L), thành phố T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Hiện hai vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm tới ai, vấn đề này cũng đã được UBND phường L xác nhận. Anh H cũng thừa nhận vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Điều đó chứng tỏ chị L, anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nghĩ nên căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị L được ly hôn anh H.

[3] Về con cái: Chị L và anh H có 03 con chung là cháu Lê Thị Vân A, sinh ngày 22/06/2015, cháu Lê Văn M, sinh ngày 31/03/2017 và cháu Lê Thị Yến N, sinh ngày 14/02/2022. Chị L và anh H đều có nguyện giao cháu Yến N cho chị L, giao cháu Vân A và M cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện tại cháu V anh và cháu M đang ở với anh H, cháu yến N đang ở với chị L. Để không bị xáo trộn cuộc sống và đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho các cháu, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị L và anh H, giao cháu giao cháu Yến N cho chị L, giao cháu Vân A và M cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận ý kiến của chị L, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Xét thấy mức đề nghị cấp dưỡng của anh H là phù hợp, buộc chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu M mỗi tháng là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng từ tháng 11/2024 cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản, công nợ chung: Chị L, anh H không yêu cầu nên miễn xét.

[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147; 227; 228; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị L được ly hôn anh Lê Văn H.
  2. Về con cái: Công nhận chị L và anh H có 03 con chung là cháu Lê Thị Vân A, sinh ngày 22/06/2015, cháu Lê Văn M, sinh ngày 31/03/2017 và cháu Lê Thị Yến N, sinh ngày 14/02/2022. Giao cháu Vân A và cháu M cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu Yến N cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung, chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung cho cháu M mỗi tháng 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng), thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 11/2024 cho đến khi cháu Mạnh thành N1.

    Anh H, chị L có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Hà Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá, theo biên lai số 0001722 ngày 12/07/2024. Chị L còn phải nộp số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), anh Lê Văn H không phải chịu án phí.

Án xử công khai sơ thẩm. Anh H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị L có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND, TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND Tp Thanh Hoá;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Long Anh;
  • - Chi cục THADS Tp Thanh Hoá;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

 

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Đỗ Khắc Kiếm

Nguyễn Thị Loan

Nguyễn Thanh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cháp nhận yêu cầu nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger