|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 01 /2024/HNGĐ - ST Ngày: 28/11/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ
- Ông Nguyễn Thế Sách
- - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Khánh – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 23/2024/TLST - HNGĐ ngày 10/10/2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 01/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 11/11/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phan Thị H, sinh năm 1977
- - Bị đơn: Ông Hoàng Công T, sinh năm 1965
- Cùng trú tại: Thôn H, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phan Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Bà và ông T gặp nhau và yêu thương nhau ở Hà Tĩnh, quê bà. Sau đó, ông bà về chung sống như vợ chồng đến nay được khoảng gần 30 năm tại Hà Tĩnh. Đến năm 2016 thì, vợ chồng chuyển về quê ông T ở thôn H và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ. Ngay từ đầu, vợ chồng đã có nhiều bất đồng về quan điểm sống, về kinh tế, ứng xử, tính cách. Vài năm gần đây thì mâu thuẫn càng trầm trọng, ông T còn nhiều lần ghen tuông vô cớ. Vợ chồng sống ly thân được vài tháng nay rồi. Nay bà thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin ly hôn với ông T.
Quá trình giải quyết vụ án, ông T nhiều lần dọa nạt bà, bắt bà về chung sống với ông T, nhưng bà xác định không còn tình cảm gì với ông T nên dứt khoát từ chối đoàn tù và đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, đưa vụ án ra xét xử.
- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Hoàng Thị N, sinh năm 1996; Hoàng Công T1, sinh ngày 27/7/1998 và Hoàng Thị Cẩm L, sinh ngày 02/01/2009. Chị N, anh T1 đều khỏe mạnh, trưởng thành, riêng chị L thì bà xin nuôi chị L và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Hiện tại thu nhập của chị khoảng 10tr/tháng, đủ điều kiện nuôi con.
- Về tài sản: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn là ông Hoàng Công T trình bày:
- Về hôn nhân: Ông nhất trí với lời trình bày của bà H nêu trên về quá trình kết hôn, chung sống. Ông xác định khoảng vài tháng nay vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt nguyên nhân là ông thấy bà H có quan hệ trên mức bạn bè thông thường với người đàn ông khác, về nhà lạnh nhạt với ông và đến nay thì xin ly hôn. Đến nay, ông vẫn còn yêu thương bà H nên ông không đồng ý ly hôn. Ông đề nghị Tòa án hòa giải để cho vợ chồng tôi đoàn tụ.
- Về con chung: Ông nhất trí với lời trình bày nêu trên của bà H. Ly hôn, ông cũng xin nuôi cháu L và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Bà H giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn; ông T không nhất trí ly hôn nhưng xác định vợ chồng đã ly thân được khoảng 4 -5 tháng, trong thời gian này ông đã dùng nhiều cách khác nhau để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà H vẫn dứt khoát xin ly hôn.
Về con chung, ông T, bà H đều thống nhất trong trường hợp vợ chồng ly hôn, giao con chung chưa thành niên là cháu L cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T với mức 1.500.000 đồng/tháng kể từ tháng 12/2024 đến khi cháu L đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Hai bên đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đều đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị HĐXX áp dụng: các điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- - Về hôn nhân: Bà Phan Thị H được ly hôn với ông Hoàng Công T.
- - Về con chung: Giao cháu các cháu Hoàng Thị Cẩm L, sinh ngày 02/01/2009 cho ông Hoàng Công T trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phan Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Hoàng Công T, mỗi tháng là 1.500.000 Đồng/tháng, kể từ tháng 12/2024 đến khi cháu Hoàng Thị Cẩm L đủ 18 tuổi.
- - Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- - Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Bà Phan Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết vấn đề nuôi con chung với bị đơn là ông Hoàng Công T trú tại thôn H, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” và Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân:
Bà Phan Thị H và ông Hoàng Công T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ ngày 14/12/2024, nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng, trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự và kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án, thì thấy: Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến vài năm gần đây thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T nghi ngờ bà H không chung thủy, nhưng bà H thì cho rằng ông T ghen tuông vô cớ, dẫn đến vợ chồng dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi cọ, xô sát, ông T nhiều lần dọa nạt bà. Đến nay, vợ chồng đã sống ly thân được khoảng 4 – 5 tháng. Ông T đã nhiều lần nhắn tin cho bà H để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà H xác định vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên nhiều lần đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử theo quy định. Những điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông T.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Hoàng Thị N, sinh năm 1996; Hoàng Công T1, sinh ngày 27/7/1998 và Hoàng Thị Cẩm L, sinh ngày 02/01/2009. Hiện N và T1 đều khỏe mạnh, trưởng thành nên không đặt ra xem xét.
Đối với con chưa thành niên là cháu L, tại phiên tòa, ông T và bà H đều thống nhất trong trường hợp vợ chồng ly hôn, giao cháu L cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, bà H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông T với mức 1.500.000 đồng/tháng. Xét thấy, thỏa thuận này của hai bên đương sự không trái với đạo đức, phù hợp với quy định pháp luật nên cần chấp nhận thỏa thuận này.
[2.3] Về tài sản: Các bên đương sự đều không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 28, 35, 39 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Bà Phan Thị H được ly hôn với ông Hoàng Công T.
- Về con chung:
Giao cháu các cháu Hoàng Thị Cẩm L, sinh ngày 02/01/2009 cho ông Hoàng Công T trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Phan Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Hoàng Công T, mỗi tháng là 1.500.000 Đồng/tháng, kể từ tháng 12/2024 đến khi cháu Hoàng Thị Cẩm L đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bà Phan Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 Đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận bà H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000704 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ. Bà H còn phải nộp 300.000 Đồng.
- Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đình Công |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thế Sách |
Phan Thị Nhụ |
Phan Đình Công |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thị Phú Thị Huệ |
Nguyễn |
Phan Đình Công |
Bản án số 01/2024/HNGĐ - ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử
