|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 501/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/07/2024 V/v: Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Nam Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hà
2. Bà Nguyễn Thị Thụy
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đức Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi biên bản phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Mai Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 414/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Quách Thị T, sinh năm 1991.
Nơi thường trú: Số H, nhà A, Tập thể Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
Nơi ở hiện nay: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình K, sinh năm 1980.
Nơi thường trú: Số H, nhà A, Tập thể Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
Hiện đang chấp hành án tại: Đội 3, phân trại 6, Trại giam T2 ( địa chỉ: xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa).
Tại phiên tòa có mặt chị T, anh K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, được bổ sung tại bản tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Quách Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đình K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình vào ngày 09/09/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 01 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng chị là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Chị và anh K đã sống ly thân từ đó đến ngày 15/12/2021 thì anh K bị bắt tạm giam và sau đó bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án án số: 74/2022/HSST Ngày 29/4/2022. Hiện nay anh K đang chấp hành án tại: Đội 3, phân trại F, Trại giam T2, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nay, chị Quách Thị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đình K.
- Về con chung: Chị và anh K có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc Khánh C (giới tính: nữ), sinh ngày 18/6/2012 và cháu Nguyễn Đình Gia B (giới tính: nam), sinh ngày 14/8/2017. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị. Hiện nay thu nhập của chị T ổn định, chị có chỗ ở ổn định tại Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Kể từ khi anh chị sống ly thân đến khi anh K bị bắt tạm giam cho đến nay, hai con do chị trực tiếp nuôi dưỡng, các cháu phát triển tốt về mọi mặt.
- Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí giải quyết việc ly hôn.
* Tại bản tự khai, bị đơn là anh Nguyễn Đình K trình bày:
- Về hôn nhân: Anh K có trình bày thống nhất với chị T về thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn của vợ chồng. Hiện nay anh đang phải đi chấp hành án vì vậy chị K làm đơn khởi kiện ly hôn anh thì anh cũng đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng anh có hai con chung như chị T trình bày. Ly hôn anh đồng ý giao cháu Nguyễn Ngọc K1 C và cháu Nguyễn Đình Gia B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị T vì hiện nay anh đang đi chấp hành án, không có thu nhập.
- Về tài sản, công nợ chung: Anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí giải quyết việc ly hôn. Anh K nhất trí và không có ý kiến gì khác.
Thu thập chứng cứ tại địa phương phản ánh: Anh Nguyễn Đình K, sinh năm 1980.Có HKTT thường trú: Số H, nhà A, Tập thể Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án án số: 74/2022/HSST Ngày 29/4/2022. Hiện nay anh K đang đi chấp hành án, không có mặt tại địa phương.
Tại phiên tòa, chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn, bị đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T, giao cháu Nguyễn Ngọc K1 C và cháu Nguyễn Đình Gia B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị T, về tài sản, công nợ chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Buộc chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn. Việc Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Đình K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[3] Về hôn nhân: Chị Quách Thị T và anh Nguyễn Đình K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 01 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Nay chị T làm đơn khởi kiện ly hôn thì anh K cũng đồng ý ly hôn. Xác minh tại địa phương Anh Nguyễn Đình K, sinh năm 1980.Có HKTT thường trú: Số H, nhà A, Tập thể Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Bị Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án án số: 74/2022/HSST Ngày 29/4/2022. Hiện nay anh K đang đi chấp hành án, không có mặt tại địa phương. Như vậy có thể khẳng định cuộc sống hôn nhân giữa chị T và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị được ly hôn anh K.
[4]. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T và anh K có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc Khánh C (giới tính: nữ), sinh ngày 18/6/2012 và cháu Nguyễn Đình Gia B (giới tính: nam), sinh ngày 14/8/2017. Ly hôn chị T đề nghị Toà án giao cả hai con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị, hiện nay chị đang có thu nhập và chỗ ở ổn định, đảm bảo để nuôi con. Anh K cũng đồng ý ly hôn giao cháu C và cháu B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con chung với chị T vì hiện nay anh đang phải đi chấp hành án, không có thu nhập. Cháu C cũng có nguyện vọng được ở với chị T. Việc giao con cho ai nuôi dưỡng cần xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét thấy, anh K hiện nay đang đi chấp hành án, không có thu nhập, không có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Chị T mặc dù là lao động tự do nhưng có thu nhập, chỗ ở ổn định. Kể từ khi anh chị sống ly thân, anh K đi chấp hành án cho đến nay, cháu C, cháu B vẫn do chị T nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt cho các cháu. Nguyện vọng của chị T và anh K về người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo về quyền lợi cho con chưa thành niên và phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của anh chị.
[5]. Về tài sản, công nợ chung: Chị T và anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6]. Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 điều 273, Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 .
Về hôn nhân: Xử cho chị Quách Thị T được ly hôn anh Nguyễn Đình K.
Về con chung: Chị T và anh K có hai con chung là cháu Nguyễn Ngọc Khánh C (giới tính: nữ), sinh ngày 18/6/2012 và cháu Nguyễn Đình Gia B (giới tính: nam), sinh ngày 14/8/2017. Ly hôn giao cháu C và cháu B cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị T.
Anh K có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản, công nợ chung: Chị T và anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Quách Thị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0030222 Ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (chị T đã nộp đủ án phí).
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc ngày niêm yết) bản án./.
|
Nơi nhân:
|
T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Nam Hải |
Bản án số 501/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 501/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Quách Thị T được ly hôn anh Nguyễn Đình K.
