|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13 - 02 - 2025
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Huyền và bà Trần Thanh Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: bà Vũ Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 165/2024/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02a/2025/QÐST- HNGĐ ngày 13/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Mỹ L, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Khu E, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Lê Xuân T, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Khu E, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
(Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu bổ sung, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Mỹ L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Xuân T đăng ký kết hôn ngày 20/4/2020 tại UBND xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống tại khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn tiếng nói chung nên thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên trầm trọng hơn, tháng 5/2024 chị L đã về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị L làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Xuân T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Thiên Â, sinh ngày 10/7/2020 và Lê Anh Q, sinh ngày 31/7/2022. Khi ly hôn chị L đề nghị anh T trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung. Chị L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh T, vì anh T không yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai (BL 22) của bị đơn anh Lê Xuân T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Đỗ Mỹ L đăng ký kết hôn ngày 20/4/2020 tại UBND xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại khu E, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Qúa trình chung sống vợ sống hòa thuận, hạnh phúc được khoảng 03 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, cách sống không hợp nhau dẫn đến cãi nhau. Đến khoảng tháng 5/2024 chị L đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở và vợ chồng cũng sống ly thân từ đó cho đến nay. Tuy vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng anh T thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh T không đồng ý ly hôn với chị L. Anh T xin được đoàn tụ để vợ chồng về cùng nhau nuôi dạy các con chung.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Thiên Â, sinh ngày 10/7/2020 và Lê Anh Q, sinh ngày 31/7/2022. Nếu phải ly hôn anh xin được nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu chị L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án và của HĐXX, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng và quy định của Pháp luật.
Anh Lê Xuân T (bị đơn) đã được triệu tập nhiều lần nhưng chỉ đến Tòa án làm việc một lần còn những lần khác không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, điều 56, điều 58, điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Đỗ Mỹ L được ly hôn anh Lê Xuân T.
- Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự về nội dung anh Lê Xuân T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Lê Thiên Â, sinh ngày 10/7/2020 và cháu Lê Anh Q, sinh ngày 31/7/2022 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Chị L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị L có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở quyền này.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp xin ly hôn giữa chị Đỗ Mỹ L và anh Lê Xuân T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh T có hộ khẩu thường trú tại khu E, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do; chị L vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt) căn cứ Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn (anh T) là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị L và anh T đăng ký kết hôn ngày 20/4/2020 tại UBND xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở tự nguyện. Hôn nhân của chị L và anh T là hôn nhân hợp pháp. Qua bản tự khai của chị L thấy rằng trong quá trình chung sống, vợ chồng đã có thời gian 03 năm chung sống hòa thuận, hạnh phúc sau đó hai vợ chồng xảy mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hay cãi nhau, hiện nay không còn tình cảm vợ chồng với anh T nên chị L đề nghị được ly hôn. Còn anh T thấy rằng vợ chồng có mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn đó chưa lớn, anh không muốn làm tổn thương các con chung nên anh đề nghị vợ chồng được đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái. Xét thấy anh T mong muốn được đoàn tụ với chị L nhưng anh không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ vợ chồng. Đồng thời qua xác minh tại chính quyền địa phương thì chị L và anh T không còn chung sống với nhau nữa . Hơn nữa tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 23/12/2024, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng anh T không đến Tòa án làm việc. Điều đó thể hiện anh T chưa thực sự mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị L. Từ những phân tích trên, thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên việc chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con là cháu Lê Thiên Â, sinh ngày 10/7/2020 và cháu Lê Anh Q, sinh ngày 31/7/2022. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L và anh T đều thống nhất, sau ly hôn để anh T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu  và cháu Q, chị L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Xét thấy việc thỏa thuận này là tự nguyện, không trái đạo đức, pháp luật nên cần ghi nhận.
Về tài sản chung, công nợ công sức: Chị L và anh T đều xác nhận không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Đỗ Mỹ L phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, điều 56, điều 58, điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147; Điểm a,b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Mỹ L được ly hôn anh Lê Xuân T.
[2] Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Đỗ Mỹ L và anh Lê Xuân T về việc Anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung là Lê Thiên Â, sinh ngày 10/7/2020 và Lê Anh Q, sinh ngày 31/7/2022 cho đến khi các con chung thành niên có khả năng lao động. Chị L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh T, do anh T không yêu cầu.
Chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về án phí: Chị Đỗ Mỹ L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005426 ngày 29/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Ngọc Hà |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
