Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 08 - 12 - 2024

V/v Tranh chấp Ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng Thái

  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh

  • 2. Bà Vũ Thị Hương

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thoan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nhữ Như Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 202/2024/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 Về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986;
Nơi cư trú: Xóm P, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
(Có mặt tại phiên tòa)

2. Bị đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1987;
HKTT: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Xóm P, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên
(Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, lời khai của Nguyên đơn – anh Nguyễn Văn T tại phiên tòa trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Dương Thị H kết hôn năm 2015 do hai bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và được cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xóm P, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình chung sống không có hạnh phúc thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do chị H không tu chí làm ăn, không chăm lo cho gia đình nên thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Năm 2022 chị H bỏ nhà đi về nhà bố mẹ đẻ tại xóm H, xã V, huyện Đ ở, từ đó vợ chồng ly thân, anh đã nhiều lần đi đón vợ về để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dậy con chung nhưng chị H không về mà cũng không quan tâm gì đến chồng con. Mỗi khi nói chuyện là Vợ chồng không có sự tôn trọng lẫn nhau, đến nay mỗi người sống ở một nơi ai biết bổn phận của người đó. Anh xác định đời sống chung vợ chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn T1, sinh ngày 29/10/2014 và Nguyễn Thị M, sinh ngày 16/8/2021. Hiện nay anh đang trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc 02 con chung. Khi ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cả 02 con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con cùng anh.

- Về tài sản chung và nợ chung: Anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Anh nhận nộp toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Đ đã thực hiện việc tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho chị Dương Thị H theo đúng quy định của Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, ngày 10/10/2024 chị H đến Tòa án viết bản tự khai, ý kiến của chị H về yêu cầu khởi kiện của anh T như sau: Chị và anh Nguyễn Văn T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, được cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị chung sống cùng gia đình chồng tại Xóm P, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, chung sống với nhau được 8 năm thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, do hay cãi nha, anh T vứt quần áo của chị và đuổi chị đi nên chị trở về nhà bố mẹ đẻ ở. Nay chị vẫn còn tình cảm với anh T mong muốn anh Tư suy N lại để vợ chồng đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con. Chị đề nghị Tòa án cho chị một thời gian 01 tháng để chị suy nghĩ lại, quay trở về nuôi con chung.. Trường hợp anh T cương quyết ly hôn thì chị cũng nhất trí. Về con chung: Chị nhận nuôi 01 con là: Nguyễn Thị M, sinh ngày 16/8/2021. Không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về Tài sản chung: Vợ chồng có mua 01 lô đất, khi mua chị có góp 01 cây vàng để mua đất.

Nợ chung: Không có.

Tòa án giao Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh T và chị H nhưng tại phiên họp chị H không có mặt tại Tòa án để hòa giải vụ án với anh T và cũng không có đơn xin hoãn phiên họp gửi Tòa án, do vậy Tòa án không ghi được lời khai của chị H trong phiên hòa giải và quan điểm của chị H về các mối quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung, Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được và Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên như sau:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết vụ án. Nguyên đơn( anh T) chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn( chị H) chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • - Về nội dung: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 21, 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các Điều 51,56,57,58,81,82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

  • + Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Văn T cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Dương Thị H.

  • + Về con chung: Do chị H không có mặt tại phiên hòa giải cũng như phiên tòa nên Giao 02 con chung là Nguyễn Văn T1, sinh ngày 29/10/2014 và Nguyễn Thị M, sinh ngày 16/8/2021 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác.

  • * Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Không giải quyết do anh T không yêu cầu.

  • * Quyền đi lại thăm nom con chung: Chị Dương Thị H có quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi cần thiết.

  • + Về tài sản chung, công nợ chung: Không giải quyết do anh T và chị H không có yêu cầu.

  • + Án phí: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

* Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình giữa Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T và Bị đơn: Chị Dương Thị H đều có đăng ký thường trú tại xóm X, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập đến phiên tòa cho anh T và chị H. Tại phiên tòa mở lần thứ hai chị Nguyễn Thị H1 vẫn vắng mặt không có lý do là không có ý thức chấp hành pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn - chị Nguyễn Thị H1 theo quy định của pháp luật.

* Về nội dung vụ án:

[1]. Về quan hệ hôn nhân:

Anh Nguyễn Văn T và chị Dương Thị H tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên năm 2015 là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Lý do anh T khởi kiện ly hôn chị H, Theo anh T trình bày là do vợ chồng anh chung sống với nhau sống không có hạnh phúc thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, chị H không tu chí làm ăn, không chăm lo chăm sóc cho gia đình nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Năm 2022 chị H bỏ nhà đi về nhà bố mẹ đẻ tại xóm H, xã V, huyện Đ ở, từ đó vợ chồng sống ly thân, anh đã nhiều lần đi đón vợ về để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng chị H không chịu về, vợ chồng không có sự tôn trọng nhau, đến nay mỗi người sống ở một nơi ai biết bổn phận của người đó. Anh xác định đời sống chung vợ chồng không còn tồn tại, cả hai bên đã sống ly thân từ năm 2022, không quan tâm hỏi han nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

HĐXX xét thấy: Quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H xảy ra mâu thuẫn từ năm 2022, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau và đã sống ly thân từ năm 2022, khi giải quyết vụ án, chị H mong muốn cho chị thời gian khoảng 1 tháng để chị suy nghĩ lại nhưng trong thời gian để chị suy nghĩ, bản thân chị không có biện pháp gì để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, theo anh T khai chị không qua lại nhà để thăm nom con cái, nay anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, như vậy cả hai bên đều không quan tâm gì đến nhau là vi phạm Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình về tình nghĩa vợ chồng. Nội dung điều luật quy định:

“Điều 19. Tình nghĩa vợ chồng.

1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”

Xác định tình cảm vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn T và chị Dương Thị H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân sẽ không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Văn T là có cơ sở chấp nhận, vì vậy cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Dương Thị H là phù hợp với thực tế và Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2]. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Văn T1, sinh ngày 29/10/2014 và Nguyễn Thị M, sinh ngày 16/8/2021 hiện nay anh T đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do chị H không có mặt tại phiên tòa để trình bày ý kiến nên Tòa án không thể giao con cho người vắng mặt, vì vậy Giao 02 con chung là Nguyễn Văn T1, sinh ngày 29/10/2014 và Nguyễn Thị M, sinh ngày 16/8/2021 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác.

  • * Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Không giải quyết do anh T không yêu cầu.

  • * Quyền đi lại thăm nom con chung: Chị Dương Thị H có quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con khi cần thiết.

  • + Về tài sản chung, công nợ chung: Không giải quyết do anh T và chị H không có yêu cầu.

  • + Án phí: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước.

[3]. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do anh T và chị H không có yêu cầu.

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí Hôn nhân và gia đình nộp vào Ngân sách nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007303 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

[5]. Quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T và chị Dương Thị H có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147' khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273, 482, 483 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 19, 51, 56, 57, 58, 81,82,83,84 Luật hôn nhân gia đình;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Luật thi hành án dân sự

Tuyên xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Văn T, cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Dương Thị H Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn T và chị Dương Thị H chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật.

  2. 2. Về con chung:

    Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Nguyễn Văn T1, sinh ngày 29/10/2014 và Nguyễn Thị M, sinh ngày 16/8/2021 đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc đến khi các bên có sự thay đổi khác.

    • * Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Không giải quyết do anh T không yêu cầu.

    • * Quyền đi lại thăm nom con chung: Chị Dương Thị H có quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung. Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp cần thiết, vì lợi ích của con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết .

  4. 4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm vào Ngân sách Nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0007303 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  5. 5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt anh Nguyễn Văn T, báo cho anh T biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Dương Thị H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - UBND nơi ĐKKH năm 2015, xã Văn Hán, huyện Đ, tỉnh TN;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS, bộ phận HNGĐ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Mai Thị Hồng Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ - ST ngày 08/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Nguyễn Văn T, cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Dương Thị H Quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn T và chị Dương Thị H chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger