Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày 08-01-2024

“V/v ly hôn giữa chị Ng - anh V”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

-Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Diệu, Bà Nguyễn Thị Đoan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Hạnh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2023/TLST–HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 64/2023/QĐHPT-ST ngày 28/12/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Ng, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Anh Lưu Quang V, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Tổ 9, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt chị Ng, anh V vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện được bổ sung bằng biên bản ghi lời khai, nguyên đơn là chị Vũ Thị Ng trình bày: Chị và Lưu Quang V tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện Q vào ngày 16/3/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại gia đình anh V và đi lao động tự do. Trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 8/2023 mâu thuẫn trầm trọng, chị Ng đã chủ động trở về gia đình bố mẹ đẻ tại xã A sinh sống và sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị xin được ly hôn anh V.

Về con chung: Chị Ng khai chị và anh V không có con chung, chị không có thai con chung.

Về tài sản chung: Chị Ng khai vợ chồng không có tài sản chung, vợ chồng không có nợ chung và không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Lưu Quang V: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và tống đạt hợp lệ mọi văn bản tố tụng cần thiết cho anh V biết và đến Tòa án giải quyết vụ kiện, nhưng anh V vẫn vắng mặt không đến Tòa án giải quyết việc ly hôn, vì vậy Tòa án không ghi được lời khai của anh V và không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa lần 1 và lần 2 anh V vắng mặt.

Tòa án đã xác minh:

- Ông Lưu Quang V, sinh năm 1966, địa chỉ: Tổ 9, thị trấn An Bài là bố đẻ anh V và bà Đỗ Thị H là công chức Tư pháp thị trấn An Bài đã cung cấp hoàn cảnh điều kiện, thời gian kết hôn, thời gian chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Ng và anh V. Hiện tại chị Ng đã trở về quê sinh sống và sống ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Đối với anh V hiện đi làm ăn tự do không cố định địa chỉ nhưng thường xuyên trở về nhà và đã biết việc chị Ng làm đơn khởi kiện ly hôn, anh V đã nhận giấy tờ tố tụng của Tòa án do ông Văn nhận thay. Quan điểm của ông V và bà H đề nghị Tòa án căn cứ vào thực trạng cuộc hôn nhân giữa chị Ng và anh V, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Ng được ly hôn anh V theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Hồ sơ vụ án từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án đã lập và thu thập đầy đủ các tài liệu và chứng cứ, tuân thủ đúng trình tự luật định. Tại phiên tòa việc xét xử vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự pháp luật. Đối với nguyên đơn trong các giai đoạn tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa là chấp hành chưa tốt các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Ng được ly hôn anh V; Chị Ng và anh V không có con chung, chị Ng không yêu cầu giải quyết tài sản chung nên không đặt ra giải quyết; Chị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thâm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn có nơi cư trú tại thôn tổ 9, thị trấn A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo quy định tại Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn đã được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Vũ Thị Ng và anh Lưu Quang V được xác lập trên cơ sở tự do, tự nguyện tìm hiểu kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện Q vào ngày 16/3/2021là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị Ng và anh V cùng sinh sống tại gia đình anh V tại thị trấn A và lao động tự do. Trong quá trình chung sống do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống đã dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, thời điểm tháng 8/2023 mâu thuẫn căng thẳng, chị Ng đã trở về nhà bố mẹ đẻ tại xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình sinh sống và sống ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Ng làm đơn khởi kiện đề nghị xin được ly hôn. Còn đối với anh V quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ để anh V biết và đến Tòa án tham gia hòa giải, vợ chồng có cơ hội gặp gỡ trở về đoàn tụ, nhưng anh V vắng mặt. Qua xác minh lời khai Ông Lưu Quang V, sinh năm 1966, địa chỉ: Tổ 9x, thị trấn A là bố đẻ anh V, và bà Đỗ Thị H là công chức tư pháp thị trấn A đều xác nhận hiện anh V đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại gia đình ở tổ 9x, thị trấn A. Anh V đã biết việc chị Ng làm đơn xin ly hôn, anh V đã nhận các giấy tờ của Tòa án tống đạt và có ý kiến đề nghị xử án vắng mặt. Quan điểm của ông V và bà H đều đề nghị Tòa án căn cứ vào thực trạng hôn nhân giải quyết cho chị Ng được ly hôn anh V vì hai bên đã mâu thuẫn, sống ly thân và không còn thương yêu nhau nữa. Đối với chị Ng tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn anh V. Điều đó chứng tỏ cuộc sống tình cảm vợ chồng giữa chị Ng và anh V đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Ng được ly hôn anh V là có căn cứ.

[4] Về con chung: Chị Ng và anh V không có con chung.

[5] Về tài sản chung: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy phần tài sản Tòa án không xét.

[6] Về án phí: Chị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Ng và anh V có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTV QH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị Ng được ly hôn anh Lưu Quang V.
  2. Về con chung: Chị Ng và anh V không có con chung
  3. Về tài sản chung: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Ng phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng chị Ng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004529 ngày 02/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ thành tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Ng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Anh V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Thái Bình;
  • -TAND tỉnh Thái Bình;
  • -VKSND huyện Quỳnh Phụ;
  • -Chi cục THADS huyện Quỳnh Phụ;
  • -UBND TT A;
  • -Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGUYỄN MINH ĐỨC

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị Ng và anh V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger