Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05 - 01 - 2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích

Ông Nguyễn Văn Thục

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 234/2023/TLST-HNGĐ ngày 13/10/2023 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 211/2023/QÐST-HNGĐ ngày 15/12/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị L, sinh năm 1982 (Xin vắng mặt)

HKTT: thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang ở tại: Số F đường W, X, quận W, thành phố T, Đài Loan

Người đại diện nhận văn bản tố tụng: Anh Đoàn Văn H, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1981 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Đoàn Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn L1 kết hôn với nhau ngày 26/12/2001 và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L. Sau khi kết hôn chị về chung sống tại nhà anh L2 tại thôn B, xã T. Khoảng năm 2003 vợ chồng chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Đến năm 2014 chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến nay. Khi chị ở nước ngoài thì ban đầu vợ chồng vẫn thương xuyên liên lạc với nhau nhưng một khoảng thời gian sau thì ít liên lạc dần, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do mỗi vợ chồng một nơi, không quan tâm nhau nhiều, vợ chồng có nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Anh chị đã không liên lạc với nhau từ lâu và ly thân từ năm 2014 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn L1.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 16/5/2003 và cháu Nguyễn Thu T, sinh ngày 06/11/2005. Do cháu H1 đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu T, nếu trong quá trình giải quyết cháu T đủ tuổi trưởng thành thì chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn L1 là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt đối với anh L1 theo quy định của pháp luật theo khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng đến nay vẫn không thấy anh L1 đến phiên tòa cũng như không có ý kiến bằng văn bản đến Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

* Tại phiên tòa, chị Đoàn Thị L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Đoàn Thị L và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 53, 56 và khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Lưu. Xử:

Cho chị Đoàn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn L1.

Về con chung: cháu H1 và cháu T đều đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị Đoàn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đoàn Thị L là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Đài Loan có đơn xin ly hôn với anh Nguyễn Văn L1. Bị đơn anh Nguyễn Văn L1 là người Việt Nam, có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do nguyên đơn chị Đoàn Thị L đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Đoàn Thị L là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần những vẫn vắng mặt không có lý do. Anh L1 hiện không có mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ cư trú hiện nay, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh L1 theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị L và anh Nguyễn Văn L1 kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 26/12/2001 tại UBND xã Đ, huyện L nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh L1. Xem xét đơn khởi kiện của chị L, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn chị về làm dâu nhà anh L1 nhưng đến năm 2003 vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn. Chị L xác định từ năm 2014 khi chị đi lao động tại Đài Loan thì anh chị đã ly thân và đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Bản thân chị L hiện nay đang lao động tại nước ngoài, vợ chồng xa cách địa lý. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh L1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị Đoàn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn L1.

[4]. Về nuôi con chung: Chị L và anh L1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn H1, sinh ngày 16/5/2003 và cháu Nguyễn Thu T, sinh ngày 06/11/2005. Do cháu H1 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Đối với cháu T thời điểm chị L khởi kiện thì cháu chưa đủ 18 tuổi nhưng đến nay cháu đã trưởng thành nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản, công nợ chung: Do chị Lưu k yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Đoàn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoàn Thị Lưu

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Văn L1.

2. Về án phí:

Chị Đoàn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000005 ngày 09/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

- Chị Đoàn Thị Lưu h đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Văn L1 cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Đại Lâm, huyện Lạng Giang,
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hường

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN -

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Thục

Nguyễn Thị Bích

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu ly hôn Luôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger