|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 22/11/2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nam.
Ông Nguyễn Văn Tính.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2024/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 38/2024/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện G, thành phố Hà Nội. Có mặt;
Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1996; Địa chỉ: Khu phố C, phường H, thị xã T, Bắc Ninh. Có mặt;
Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị M là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị M trình bày: Chị kết hôn với anh Nguyễn Xuân Đ ngày 27/3/2023, có được tìm hiểu, tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã T. Cưới xong chị về nhà chồng làm ăn ngay, vợ chồng ở riêng.
Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 6/2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ chơi bời cờ bạc, không tu trí làm ăn, thường xuyên đi chơi cả đêm không về, không chăm lo cho gia đình và con cái. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn nhưng anh Đ không thay đổi. Tháng 11/2023, chị đưa con về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể chung sống với nhau nên chị đề nghị được ly hôn với anh Đ.
- Con chung: Vợ chồng có 01 con là Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 24/10/2023. Hiện nay chị đang nuôi con. Khi ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
- Tài sản chung, công nợ: Không có.
Bị đơn là anh Nguyễn Xuân Đ trình bày: Anh xác nhận một phần lời trình bày của chị M về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn.
Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận không có mâu thuẫn gì. Do gia kinh tế khó khăn, chị M còn ít tuổi nên suy nghĩ bồng bột, thời điểm đó chị M ở nhà không đi làm, một mình anh đi làm công nhân, anh không có khả năng đáp ứng hết những thứ chị M muốn nên hai vợ chồng hay xảy ra cãi nhau. Mỗi lần cãi nhau chị M lại bỏ đi, lúc thì về nhà ngoại, lúc thì thuê nhà nghỉ. Chị M bỏ đi 3 đến 4 lần. Những lần như vậy anh đều gọi điện đón chị M về nhà để tiếp tục chung sống nhưng được một thời gian ngắn mỗi khi dỗi chị M lại tiếp tục bỏ đi.
Tháng 10/2023 chị M sinh con, anh phải đi làm công ty nhưng chị M yêu cầu anh phải phục vụ vợ đẻ 24/24 mà không khiến mẹ chồng phục vụ nên vợ chồng lại cãi nhau. Khi sinh con được 1 tháng, nhân lúc anh đi làm không có nhà, chị M bế con bỏ về nhà đẻ mà không nói gì với anh. Nay chị M làm đơn xin ly hôn, anh xác định vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, anh vẫn còn yêu thương vợ, con. Vì vậy, anh không đồng ý ly hôn, anh đề nghị Tòa án hòa giải để vợ chồng đoàn tụ.
- Con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị M trình bày. Anh không đồng ý ly hôn nên anh không có quan điểm về con chung.
- Tài sản chung, công nợ: Không có.
Với nội dung trên, tại bản án sơ thẩm số: 38/2024/HNGĐ-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành đã căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình. Căn cứ Điều 235, 264, 266, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bác đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M với anh Nguyễn Xuân Đ để vợ chồng về đoàn tụ.
- Về con chung, tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25/7/2024, chị Nguyễn Thị M kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm cho chị được ly hôn anh Nguyễn Xuân Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, chị M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đảm bảo đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đảm bảo thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Xuân Đ. Con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M nuôi con là Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 24/10/2023; Anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 2.000.000đ kể từ tháng 11/2024. Tài sản chung và công nợ: Không giải quyết. Án phí: Chị M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị M trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Xuân Đ kết hôn vào ngày 27/3/2023 trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân UBND phường H, thị xã T nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết là có căn cứ.
- Xét nội dung kháng cáo của chị Nguyễn Thị M, Hội đồng xét xử thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Xuân Đ tự nguyện thỏa thuận như sau:
- - Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Xuân Đ thuận tình ly hôn.
- - Con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M nuôi con Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 24/10/2023. Anh Nguyễn Xuân Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000đ (hai triệu đồng) kể từ tháng 11/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi về việc nuôi con.
- - Tài sản chung, công nợ: Không giải quyết.
- [4]. Án phí: Do sửa bản án sơ thẩm nên chị M không phải chịu án phí phúc thẩm. Chị M và anh Đ mỗi người phải chịu 150.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, anh Đ phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận kháng cáo chị Nguyễn Thị M. Sửa bản án sơ thẩm số: 38/2024/HNGĐ-ST ngày 09/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Về quan hệ vợ chồng: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Xuân Đ thuận tình ly hôn.
- Con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị M nuôi con Nguyễn Quỳnh C, sinh ngày 24/10/2023. Anh Nguyễn Xuân Đ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000đ (hai triệu đồng) kể từ tháng 11/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi về việc nuôi con.
Anh Nguyễn Xuân Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Tài sản chung, công nợ: Không giải quyết.
- Án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 150.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, không phải phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận chị M đã nộp 600.000đ tại biên lai số 0003376 ngày 29/5/2024 và số 0001401 ngày 25/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành. Hoàn trả chị M 450.000đ tại biên lai số 0003376 ngày 29/5/2024 và số 0001401 ngày 25/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành.
Anh Nguyễn Xuân Đ phải chịu 150.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tuyết Mai |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-PT ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mến - Đạt
