|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 09/01/2024.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long;
Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến
Bà Lê Thị Tố Như.
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Hồng Minh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham dự phiên tòa:
Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2023/TLPT- HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Do Bản án sơ thẩm số 98/2023/HNGĐ-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXX - PT ngày 28 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1987 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã T, h. T, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn: Anh Đinh Văn T1, sinh năm 1987. (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã T, h. T, tỉnh Thanh Hóa
* Người kháng cáo: Bị đơn anh Đinh Văn T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 23/6/2023 và bản tự khai, nguyên đơn chị Đinh Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Đinh Văn T1 kết hôn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 31/8/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận được 09 năm sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T1 ăn chơi đua đòi, không quan tâm đến cuộc sống của vợ con. Tiền làm ra anh T1 dùng hết vào việc bài bạc, rượu chè. Chị T đã cố gắng chịu đựng vì con nhưng tình trạng như vậy khiến cả hai bên đều mệt mỏi. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống cùng anh T1 được nữa, vợ chồng đã sống ly thẩn từ tháng 6/2023 cho đến nay nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Đinh Quốc T2 (Giới tính: Nam), sinh ngày: 28/12/2009 và Đinh Khánh L (Giới tính: Nữ), sinh ngày: 07/02/2016. Hiện nay cháu Đinh Khánh L đang bị khuyết tật đặc biệt nặng nên đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội theo Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Khi ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 cháu và yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng mỗi cháu số tiền là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Hai cháu mỗi tháng số tiền là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đến khi cháu T2 đủ 18 tuổi và đến khi cháu Khánh L khỏi bệnh.
Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại bản tự khai cũng như quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bị đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Về thời gian và điều kiện kết hôn của vợ chồng anh thống nhất như chị tư trình bày. Sau khi kết hôn vợ, chồng chung sống hạnh phúc, hoà thuận đến tháng 5/2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ, chồng có cãi vã sau đó chị T có bỏ nhà đi cho đến nay. Vợ, chồng anh sống ly thân từ tháng 6/2023 đến nay, không ai quan tâm ai. Nay chị T xin ly hôn anh T1 không đồng ý. Anh T1 có nguyện vọng hoà giải đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Nếu chị T kiên quyết ly hôn anh cũng đồng ý.
Về con chung: Anh T1 thống nhất như chị T trình bày vợ chồng 02 con chung là cháu Đinh Quốc T2, sinh ngày: 28/12/2009 và cháu Đinh Khánh L, sinh ngày: 07/02/2016. Anh T1 muốn đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Nếu ly hôn, anh T1 có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản, công nợ: Vợ chồng không có tài sản chung nên anh cũng không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Kết quả xác minh ngày 17/7/2023, chính quyền địa phương, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cung cấp: Chị Đinh Thị T và anh Đinh Văn T1 kết hôn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 31/8/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do không cùng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Về con: Chị T và anh T1 có 02 con chung là cháu Đinh Quốc T2 sinh ngày: 28/12/2009 và Đinh Khánh L, sinh ngày: 07/02/2016. Hiện nay cháu Đinh Khánh L là đối tượng người khuyết tật nặng nên đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội. Hiện chị T đang nuôi dưỡng cả hai cháu.
Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 98/2023/HNGĐ-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã quyết định: Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82, 83, 110, 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của BLTTDS; Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban T3, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Đinh Văn T1. Về con chung: Giao cháu Đinh Quốc T2, sinh ngày: 28/12/2009 và cháu Đinh Khánh L, sinh ngày: 07/02/2016 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng mỗi cháu số tiền là 1.000.000 đồng, hai cháu mỗi tháng số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9/2023 đến khi cháu T2 và cháu L đủ 18 tuổi. Khi cháu L đủ 18 tuổi mà chưa khỏi bệnh thì anh T1 vẫn phải tiếp tục cấp dưỡng cho cháu L đến khi cháu L khỏi bệnh.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xử sơ thẩm, ngày 11 tháng 10 năm 2023, anh Đinh Văn T1 kháng cáo với nội dung: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét vì không muốn ly hôn, nếu phải ly hôn đề nghị nuôi cả hai con không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX): Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến phiên toà phúc thẩm, Thẩm phán, HĐXX đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS). Những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 và Điều 234 BLTTDS.
Về nội dung: Ý kiến của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm tuân theo quy định của BLTTDS. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của BLTTDS; sửa bản án sơ thẩm; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết được vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên, quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự không thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng như Viện kiểm sát được biết.
[2]. Xét về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo:
Sau khi xét xử sơ thẩm bị đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 và 276 BLTTDS. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay đương sự không rút đơn kháng cáo, không rút đơn khởi kiện. Vì vậy, kháng cáo của bị đơn được xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[3]. Xét nội dung kháng cáo: Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét vì không muốn ly hôn, nếu phải ly hôn đề nghị nuôi cả hai con không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã thỏa thuận và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
Về hôn nhân: Anh T1 đồng ý ly hôn với chị T, anh chị thống nhất ly hôn, theo quy định Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Anh Đinh Văn T1 thuận tình ly hôn với chị Đinh Thị T.
Về con chung: Anh T1, chị T có 02 con chung là cháu Đinh Quốc T2, sinh ngày: 28/12/2009 và cháu Đinh Khánh L, sinh ngày: 07/02/2016. anh T1 và chị T thỏa thuận anh Đinh Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu (T2 và L) chị Đinh Thị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, do vậy cần sửa bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về ly hôn và con chung.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí: Anh T1 là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự
Chấp nhận kháng cáo của anh Đinh Văn T1
Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 98/2023/HNGĐ-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành về ly hôn và giao nuôi con chung theo sự thỏa thuận của các bên đương sự.
Áp dụng: Điều 51; khoản 1 Điều 28; Điều 38; Điều 147 và Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 55; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử.
1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đinh Thị T và anh Đinh Văn T1.
2. Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Đinh Quốc T2, sinh ngày: 28/12/2009 và cháu Đinh Khánh L, sinh ngày: 07/02/2016 cho anh Đinh Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu. Chị Đinh Thị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Chị Đinh Thị T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Trường hợp có căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về Án phí phúc thẩm: Anh Đinh Văn T1 được miễn án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm. Anh T1 được trả lại số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu số AA/2021/0008145 ngày 11/10/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đại Long |
Bản án số 01/2024/HNGĐ-PT ngày 09/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 01/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và con chung
