Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SA THẦY

TỈNH KON TUM

Bản án số: 01/2024/HNGĐ

Ngày 20/5/2024

V/v “Ly hôn, nuôi con

chung và cấp dưỡng nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KONTUM

VỚI THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Anh Phương.

  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vinh và ông Đỗ Hiền Lương.

  • - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Võ Thị Khánh Lựu.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hải Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh KonTum mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 54/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXX-ST ngày 19/04/2024 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Trần Thị D - Sinh năm 1984 (Có mặt).Trú tại: Thôn A, thị trấn S, huyện S, tỉnh KonTum.

  • * Bị đơn: Anh Vũ Văn M - Sinh năm 1980 (Vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt).

  • Trú tại: Thôn A, thị trấn S, huyện S, tỉnh KonTum.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 10/10/2023 và các lời khai tại Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày: Chị và anh Vũ Văn M về chung sống với nhau từ năm 2009, không có đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình của anh M thay đổi, thường xuyên nóng nảy và đánh mắng vợ con, mâu thuẫn vợ chồng không hòa giải được nên tháng 4/2023 chị đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án và được Tòa án huyện S thụ lý để giải quyết. Trong quá trình giải quyết anh M hứa sẽ sửa chữa sai lầm, xin chị tha thứ và chị đã làm đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái. Tuy nhiên, sau đó tình cảm vợ chồng lại mâu thuẫn lớn hơn trước, chị khẳng định chị và anh M không còn thương yêu nhau nữa nên ngày 10/10/2023 chị tiếp tục làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh M ly hôn.

Về con chung và tiền cấp dưỡng nuôi con chung:

  • + Về con chung: Có 02 con chung tên Vũ Phương L sinh ngày 04/09/2010 và con Vũ Chí D1 sinh ngày 17/02/2012. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành và tự lập được.

  • + Về tiền cấp dưỡng nuôi con: Chị đề nghị anh Vũ Văn M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là 4.000.000đ/con/ tháng (Bốn triệu đồng), cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi và tự lập được.

Tại Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 09/01/2024 chị D xin thay đổi một phần về nội dung cấp dưỡng nuôi con.

Cụ thể: Chị yêu cầu anh M cấp dưỡng để nuôi 02 con chung là 2.000.000đ/tháng/con (Hai triệu đồng).

- Về tài sản chung: Chị và anh M tự thỏa thuận được, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Biên bản tự khai và tại Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 09/01/2024 bị đơn anh Vũ Văn M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi công nhận vợ chồng về chung sống với nhau từ năm 2009, nhưng không có đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương, quá trình chung sống thì mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh như lời trình bày của cô D. Nay cô D đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, tôi thống nhất như đơn khởi kiện của cô D.

- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con:

  • + Về con chung: Tôi đồng ý như lời trình bày của cô D đã khai ở trên.

  • + Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi có trách nhiệm cấp dưỡng cho hai con là 4.000.000đ/tháng (Bốn triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con bắt đầu từ thời điểm giải quyết xong vụ án.

- Về tài sản chung: Anh và chị D tự thỏa thuận được, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai của cháu Vũ Chí D1 và cháu Vũ Phương L đều có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố và mẹ ly hôn.

* Tại Biên bản xác minh ngày 26/01/2024 thì anh Vũ Văn M và chị Trần Thị D không có đăng ký kết hôn ở Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX và thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng việc thụ lý vụ án về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự và quan hệ tranh chấp, thu thập chứng cứ theo đúng quy định tại Điều 28; Điều 35, Điều 68, Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định, việc cấp, gửi và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đầy đủ. Thời hạn giải quyết, quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hoạt động giải quyết của Thẩm phán đảm bảo đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS. Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Vũ Văn M.

3. Quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81; Điều 82; Điều 83, Điều 116, Điều 117 và 118 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên:

  • Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Trần Thị D và anh Vũ Văn M là vợ chồng.

  • Về con chung, tiền cấp dưỡng nuôi con, thời hạn cấp dưỡng nuôi con: Đề nghị ghi nhận sự thỏa thuận theo Biên bản thỏa thuận của các đương sự ngày 12/01/2024.

  • Về tài sản chung: Chị Trần Thị D và anh Vũ Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

  • Về án phí: Chị D và anh M chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên toà chị Trần Thị D vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Vũ Văn M, quyền nuôi con, cấp dưỡng nuôi con đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận vào bản án. Nguyện vọng của các con được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung. Xét yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị D thấy rằng:

[1] Tranh chấp giữa chị D và anh M là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Chị D và anh M đều có cùng địa chỉ: Thôn A, thị trấn S, huyện S, tỉnh KonTum. Vì vậy Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Sau khi thụ lý vụ án: Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ, đây là vụ án không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 206 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh Vũ Văn M (vắng mặt) nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp:

  • * Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Vũ Văn M về chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009. Mặc dù việc chung sống của anh M, chị D là tự nguyện và được sự đồng ý nhất trí của hai bên gia đình và có đủ điều kiện để đăng ký kết hôn nhưng anh M chị D không đăng ký kết hôn. Vì vậy việc chung sống của anh M, chị D là không tuân thủ luật hôn nhân gia đình (khoản 1 Điều 9 luật hôn nhân gia đình). Quá trình chung sống giữa họ không có hạnh phúc, tháng 4 năm 2023 chị đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trong thời gian Tòa án thụ lý và giải quyết anh M đã hứa sửa chữa lỗi lầm và chị đã làm đơn xin rút đơn khởi kiện để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau phát triển kinh tế gia đình và nuôi dạy con cái. Tuy nhiên tình cảm của chị và anh M vẫn không cải thiện được mà trở nên trầm trọng hơn. Tại phiên tòa chị D khẳng định không thể tiếp tục chung sống được nữa và đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

  • Ngoài ra, Tòa án đã xác minh chị Trần Thị D và anh Vũ Văn M không có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn S, huyện S, tỉnh Kon Tum.

  • Vì vậy, lý do xin ly hôn của chị D là có căn cứ. Cần áp dụng điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, để chấp nhận đơn khởi kiện của chị D; áp dụng Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 luật Hôn nhân và gia đình để xử không công nhận quan hệ giữa chị Trần Thị D và anh Vũ Văn M là vợ chồng là phù hợp với quy định của pháp luật.

  • * Về con chung ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Giao con Vũ Chí D1 sinh ngày 17/02/2012 và con Vũ Phương L sinh ngày 04/9/2010 cho chị Trần Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành và có khả năng lao động, tự lập được. Anh Vũ Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  • * Về cấp dưỡng nuôi con và thời gian cấp dưỡng nuôi con:

    • - Tại biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ: Chị Trần Thị D xin thay đổi một phần nội dung về mức cấp dưỡng nuôi con và anh M đồng ý với mức cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung là 2.000.000đ/tháng/con (Hai triệu đồng).

    • - Tại Biên bản thỏa thuận ngày 12/01/2024, hai bên đương sự đã thống nhất thỏa thuận: Anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung là 4.000.000đ/tháng/con ( Bốn triệu đồng) và thời gian cấp dưỡng từ tháng 02/2024. Cũng tại đơn xin xét xử vắng mặt của anh Vũ Văn M thì anh M vẫn giữ nguyên nội dung cấp dưỡng nuôi con và thời gian cấp dưỡng nuôi con và không có ý kiến thay đổi gì với các nội dung khác.

  • Việc thỏa thuận này của anh M và chị D không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận này:

    - Đến thời điểm thanh toán tiền cấp dưỡng nuôi con theo thỏa thuận của các bên, mà anh Vũ Văn M chưa cấp dưỡng số tiền nêu trên thì anh M phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  • * Về tài sản chung: Chị Trần Thị D và anh Vũ Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  • [4] Khi cần thiết, vì lợi ích con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

  • [5] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

  • [6] Về án phí: Chị Trần Thị D và anh Vũ Văn M phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39; Các điều 227 228, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 và các Điều 81, 82, 83, 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng điều 144; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Trần Thị D.

[1] Về hôn nhân: Xử không công nhận quan hệ giữa chị Trần Thị D và anh Vũ Văn M là vợ chồng.

[2] Về con chung, tiền cấp dưỡng nuôi con, thời gian cấp dưỡng con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau.

  • - Về con chung: Giao con Vũ Chí D1 sinh ngày 17/02/2012 và con Vũ Phương L sinh ngày 04/9/2010 cho chị Trần Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành và có khả năng lao động và tự lập được. Anh Vũ Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Không được lạm dụng việc thăm nom, chăm sóc để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  • - Về tiền cấp dưỡng nuôi con, thời gian cấp dưỡng nuôi con: Anh M có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng là 4.000.000đ/con/tháng (Bốn triệu đồng), thời điểm cấp dưỡng từ tháng 06/2024 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động và tự lập được.

  • - Đến thời điểm thanh toán tiền cấp dưỡng nuôi con theo thỏa thuận của các bên, mà anh Vũ Văn M chưa cấp dưỡng số tiền nêu trên thì anh M phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Trần Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền chị D đã nộp tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001153 ngày 19/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum chị D đã nộp đủ. Anh Vũ Văn M phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/05/2024) Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án để xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Anh Phương

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kon Tum;

  • - VKSND huyện Sa Thầy;

  • - Các đương sự;

  • - UBND thị trấn Sa Thầy;

  • - CCTHA dân sự huyện Sa Thầy;

  • - Sở tư pháp tỉnh Kon Tum;

  • - Lưu hồ sơ.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HNGĐ ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM về ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con

  • Số bản án: 01/2024/HNGĐ
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Trần Thị D.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger