Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HC-ST

Ngày: 04 - 01 - 2024

V/v “Khiếu kiện quyết định

hành chính trong lĩnh vực

quản lý đất đai”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Hoài Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tuyến;

2. Ông Nguyễn Văn Biên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thành – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trà Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2023/TLST-HC ngày 03 tháng 10 năm 2023 về "khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST-HC ngày 06 tháng 12 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 21/2023/QĐST-HC ngày 22 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Mai Quốc T, bà Nguyễn Thị Đ.

    Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đình D.

    Địa chỉ: C L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. (Văn bản ủy quyền ngày 13/7/2023). Có mặt.

  2. Người bị kiện: UBND huyện C, tỉnh Quảng Trị.

    Địa chỉ: Thị trấn C, huyện C, tỉnh Quảng Trị.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hoài L – Phó Chủ tịch UBND huyện C. (Văn bản ủy quyền số 15/GUQ-UBND ngày 06/10/2023). Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Thành C – Trưởng phòng TN và MT huyện C. Vắng mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1, anh Nguyễn Bá H1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Quốc H3.

    Cùng địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị.

    Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1. (Văn bản ủy quyền ngày 22/11/2023). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

  1. Theo đơn khởi kiện ngày 21/9/2023, tại phiên đối thoại và tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền, người khởi kiện trình bày:

    Ngày 20/10/2009, ông Mai Quốc T, bà Nguyễn Thị Đ được UBND huyện C cấp Giấy CNQSD đất tại thửa 234, tờ bản đồ số 20 với diện tích 100m². Sau khi được cấp Giấy CNQSD đất, ông T, bà Đ đã xây dựng nhà từ năm 2015 và sinh sống ổn định.

    Ngày 13/11/2017, thực hiện dự án Môi trường biển, hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1 (hộ liền kề) được UBND huyện C cấp lại Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 tại thửa 159, tờ bản đồ số 71 với diện tích 1.429m² (trước đây là thửa 13, tờ bản đồ số 20), lấn qua diện tích đất của ông Mai Quốc T, bà Nguyễn Thị Đ là 35m². Việc cấp đổi Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 ngày 13/11/2017 của UBND huyện C cho hộ ông H, bà L1 có sai sót, chồng lấn qua diện tích đất của ông T, bà Đ là ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của người khởi kiện.

    Do đó, ông Mai Quốc T, bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án:

    Hủy Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 tại thửa 159, tờ bản đồ số 71 với diện tích 1.429m² do UBND huyện C cấp ngày 13/11/2017 cho hộ Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1.

    Công nhận ranh giới, mốc giới thực tế gia đình ông Mai Quốc T, bà Nguyễn Thị Đ đang sử dụng theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị ngày 08/8/2023.

  2. Tại Văn bản số 1004/UBND-TN&MT ngày 17/10/2023, và tại buổi đối thoại, người bị kiện UBND huyện C trình bày:

    Việc UBND huyện C cấp đổi Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 ngày 13/11/2017 cho hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1 đảm bảo trình tự, thủ tục quy định. Tuy nhiên, việc cấp Giấy CNQSD có sai sót, nhầm lẫn về diện tích, cụ thể: Là không đúng với số liệu đo đạc, hồ sơ như đã lập như: Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi Giấy CNQSD đất, kết quả đo đạc địa chính thửa đất; trích lục bản đồ địa chính đều thể hiện rõ diện tích 1.326m². Lý do: Do việc cấp đổi giấy CNQSD đất nói trên được thực hiện đồng loạt trên địa bàn toàn huyện, số lượng lớn, đơn vị tư vấn là Công ty cổ phần T1 biển thực hiện việc biên tập và in xuất giấy CNQSD đất có sai sót, không đúng với số liệu đo đạc, hồ sơ đã lập; bên cạnh đó, số lượng hồ sơ nhiều đồng thời để kịp thời đảm bảo tiến độ của dự án, các cơ quan kiểm tra, thẩm định chưa phát hiện ra dẫn đến sai sót.

    Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

  3. Tại buổi đối thoại và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1, anh Nguyễn Bá H1, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Quốc H3 có ý kiến như sau:

    Việc UBND huyện C cấp Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 ngày 13/11/2017 cho hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1 là đúng quy định. Do đó, đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn sơ thẩm:

Về tố tụng: Thẩm phán chủ toạ phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký Toà án đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng; Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính trong giai đoạn sơ thẩm.

Về nội dung:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 3 Điều 116, điểm b, h khoản 2 Điều 193; Điều 348, Điều 358 Luật Tố tụng hành chính; Căn cứ Điều 100, khoản 3 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013; Điều 37, Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ – CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và Thông tư số 23/2014/TT – BTNMT ngày 19/5/201 của Bộ T2 quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Mai Quốc T, bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu hủy Giấy CNQSDĐ số CĐ 248792 ngày 13/11/2017 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Quốc H và bà Trần Thị L1. Kiến nghị UBND huyện C xem xét yêu cầu công nhận ranh giới, mốc giới của ông Mai Quốc T, bà Nguyễn Thị Đ.

Về án phí: UBND huyện C, phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Đối tượng khởi kiện:

      Theo Đơn khởi kiện, người khởi kiện cho rằng UBND huyện C cấp Giấy CNQSD đất CĐ 248792 ngày 13/11/2017 cho hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1 tại thửa 159, tờ bản đồ số 71 với diện tích 1.429m² là ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình nên ông Mai Quốc T, bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Giấy CNQSD đất nêu trên.

      Do đó, đối tượng khởi kiện là Giấy CNQSD đất số CĐ 248792.

    2. Về thẩm quyền:

      Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 do UBND huyện C cấp ngày 13/11/2017 cho hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1 là quyết định hành chính bị kiện nên Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị thụ lý, xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính.

    3. Về thời hiệu: Ngày 13/11/2017 UBND huyện C cấp Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 cho hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1. Nhưng đến cuối năm 2022, bố mẹ ông T, bà Đ cho thêm đất, khi đi làm thủ tục thì ông, bà mới biết Giấy CNQSD đất của hộ ông H, bà L1 chồng lấn lên đất ở 35m². Nên yêu cầu khởi kiện còn thời hiệu quy định tại khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
  2. Xét giấy CNQSD đất số CĐ 248792.
    1. Về thẩm quyền ban hành:

      Căn cứ Điều 105 Luật Đất đai 2013, Điều 37 Nghị định 43/ 2014/NĐ – CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, thẩm quyền cấp Giấy CNQSDĐ số CĐ 248792 ngày 13/11/2017 cho hộ ông Nguyễn Quốc H và bà Trần Thị L1 thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q.

      Tuy nhiên, ngày 11/7/2016 UBND tỉnh Q ban hành Quyết định số 2674/UBND – TN về việc xử lý cấp Giấy chứng nhận theo dự án cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn như sau quy định: “Từ ngày 01/7/2016, giao UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục thực hiện cấp Giấy chứng nhận cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trên địa bàn theo dự án đo đạc lập bản đồ địa chính, hồ sơ cấp Giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đã được phê duyệt trước ngày 01/4/2016 (bao gồm cả trường hợp cấp mới và cấp đổi Giấy chứng nhận. Do đó, ngày 13/11/2017 UBND huyện C cấp Giấy CNQSDĐ số CĐ 248792 cho hộ ông Nguyễn Quốc H và bà Trần Thị L1 là đúng thẩm quyền.

    2. Về trình tự, thủ tục cấp Giấy CNQSD đất:

      Hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất của hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1 đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai 2013 và Điều 8 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định về hồ sơ địa chính.

      Tuy nhiên, việc cấp Giấy CNQSD đất có sai sót, nhầm lẫn mà cụ thể là nhầm lẫn về diện tích đất được cấp, cụ thể:

      • Theo Đơn đề nghị cấp GCNQSD đất của ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1 diện tích xin cấp là 1.326m², nhưng Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 lại thể hiện 1.429m².
      • Trích lục bản đồ địa chính đều thể hiện diện tích thửa đất 1.326m², trong đó: phía Đông 82,35m; phía Tây 83,14m; phía Nam 15,99m; phía Bắc 15,91m. Nhưng giấy CNQSD đất lại thể hiện 1.429m² và số hiệu đỉnh thửa và chiều dài, rộng thửa đất không trùng khớp với sơ đồ bản vẽ ranh giới hiện trạng khu đất.

      Mặt khác, người bị kiện UBND huyện C cũng thừa nhận quá trình cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1 có sai sót, nhầm lẫn về diện tích, số hiệu đỉnh thửa, kích thước các cạnh của thửa đất, cụ thể là không đúng với số hiệu đo đạc, hồ sơ đã lập.

      Từ những căn cứ trên thấy rằng: Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 ngày 13/11/2017 do UBND huyện C cấp cho hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1 là có sai sót. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, hủy Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 do UBND huyện C cấp ngày 13/11/2017 cho hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1.

      Đối với yêu cầu công nhận ranh giới, mốc giới thực tế gia đình ông T, bà Đ đang sử dụng theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị ngày 08/8/2023. Yêu cầu này không thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính nên không xem xét.

    3. Về án phí: Người bị kiện phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 140; điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; khoản 3 Điều 105 Luật Đất đai 2013; Điều 37, Điều 76 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2013; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Mai Quốc T, bà Nguyễn Thị Đ về việc Hủy Giấy CNQSD đất số CĐ 248792 tại thửa 159, tờ bản đồ số 71 với diện tích 1.429m² do UBND huyện C cấp ngày 13/11/2017 cho hộ ông Nguyễn Quốc H, bà Trần Thị L1.
  2. Về án phí:
    • - Ủy ban nhân dân huyện C phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm. Người khởi kiện ông Mai Quốc T, bà Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số CC/2021/0000442 ngày 27/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
  3. Người khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị kiện có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Trị;
  • - UBND tỉnh Quảng Trị;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hoài Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HC-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 01/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Quốc T khởi kiên UBND huyện C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger