Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/HC-PT

Ngày 10-01-2024

V/v khiếu kiện hành vi

hành chính trong lĩnh vực đất đai

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Phương

  • Các Thẩm phán: Ông Vũ Quang Trung

  • Bà Vũ Thị Bích Diệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quyên – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Mỹ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 05/2023/TLPT-HC ngày 02 tháng 11 năm 2023 về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 26 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 02/2023/QĐPT-HC ngày 21 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà hành chính phúc thẩm số 02/2023/QĐ-PT ngày 21 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  • - Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1958; bà Đỗ Thị T, sinh năm 1960; nơi ĐKHKTT: Thôn G, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn A, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; ông Đ có mặt, bà T vắng mặt;

  • Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Vũ Điều T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Xóm H, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng (được uỷ quyền theo Văn bản uỷ quyền tham gia tố tụng ngày 09/01/2024) – là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện; có mặt;

  • - Người bị kiện: Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở: Thôn A, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng;

  • Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn H, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C là người đại diện theo pháp luật của người bị kiện; có mặt;

  • - Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T là người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện, lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Người khởi kiện trình bày: Năm 2006, ông Đ được Ủy ban nhân dân xã C (viết tắt là Ủy ban xã C) giao diện tích đất 200m²; địa chỉ: Thôn G, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng để làm nhà ở. Tại thời điểm đó, vị trí diện tích đất này có giá theo quy định của Bảng giá đất là 100.000 đồng/m2. Tổng số tiền ông Đ đã nộp vào ngân sách của xã là 26.500.000 đồng. Ủy ban nhân dân xã C đã giữ lại toàn bộ Biên bản và Quyết định giao đất để làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Đ đã nộp đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và sử dụng diện tích đất ổn định từ đó cho đến nay mà không có tranh chấp với ai.

Sau nhiều lần làm đơn khiếu nại gửi đến Ủy ban nhân dân xã CỦy ban nhân dân huyện T để yêu cầu lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Đ thì đến ngày 30/8/2019 theo chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, Phòng T cùng với Ủy ban nhân dân xã C đã tổ chức họp để giải quyết đơn của ông Đ và các hộ dân khác. Theo ý kiến của Chi cục thuế huyện T thì gia đình ông Đ phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo Bảng giá đất hiện tại với tổng số tiền phải nộp là: 80.000.000 đồng, tức là 400.000 đồng/m². Tuy nhiên, sau đó ông Đ và các hộ dân khác vẫn không nhận được Quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân huyện T.

Ngày 26/6/2020, ông Đ và các hộ dân khác đã làm việc với Thanh tra huyện T và Thanh tra huyện đã hứa sẽ báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện để giải quyết theo quy định của pháp luật. Đến nay hơn một năm nhưng vợ chồng ông Đ vẫn không nhận được văn bản giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân huyện T.

Theo quy định của pháp luật thì ông Đ đã nộp đầy đủ nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước tại thời điểm được giao diện tích đất ở nên ông Đ phải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cơ quan thuế yêu cầu ông Đ phải nộp tiền sử dụng đất 100% theo mức giá mới là không đúng. Trách nhiệm này là của Ủy ban xã C chứ không phải trách nhiệm của ông Đ vì Uỷ ban xã C đã thu tiền sử dụng đất của ông Đ nhưng lại không nộp về ngân sách của Ủy ban nhân dân huyện T theo quy định. Do vậy, ông Đ, bà T khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết các yêu cầu sau: Tuyên bố hành vi thu tiền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã C nhưng không nộp vào ngân sách Nhà nước để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Đ, là trái pháp luật. Buộc Ủy ban nhân dân xã C phải có trách nhiệm bồi thường, nộp toàn bộ tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ theo Thông báo của cơ quan thuế huyện T để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho gia đình ông Đ. Buộc Ủy ban nhân dân xã C phải bồi thường toàn bộ chi phí thuê luật sư khởi kiện và chi phí cần thiết để khởi kiện là 50.000.000 đồng, trong đó chi phí thuê luật sư là 40.000.000 đồng và các chi phí cần thiết để khởi kiện là 10.000.000 đồng.

Tại phiên toà sơ thẩm, người khởi kiện rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc Ủy ban nhân dân xã C phải bồi thường toàn bộ chi phí thuê luật sư và chi phí cần thiết để khởi kiện là 50.000.000 đồng.

Người bị kiện trình bày: Ủy ban xã C xác nhận có tạm thu tiền đất và tiền ủng hộ ngân sách của ông Nguyễn Văn Đ số tiền là 26.500.000 đồng. Số tiền thu này Ủy ban xã C đã giao cho kế toán xã nộp vào kho bạc Nhà nước ngày 01/12/2006 (có giấy nộp tiền vào kho bạc và bảng kê thu nộp chi tiết). Ngoài ra, Ủy ban xã C còn trình bày: Năm 2006, căn cứ Công văn số 632/CV-UBND ngày 25/10/2006 của Ủy ban nhân dân huyện T về việc xử lý tồn đọng trong quyết định giao đất và thu tiền cấp quyền sử dụng đất, Ủy ban xã C đã tập trung cho công tác chỉ đạo, đôn đốc thu dứt điểm các quyết định cấp đất tồn đọng từ năm 2006 trở về trước để tạo nguồn thu cho ngân sách địa phương, chuẩn bị cho chương trình kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Uỷ ban xã C – ngày 25/01/2007. Ủy ban xã C đã rà soát danh sách các hộ tồn đọng quyết định không còn nhu cầu, để thực hiện chuyển cho các hộ khác (đủ điều kiện có nhà xây dựng trong vùng quy hoạch cấp đất ở của xã). Sau khi thống nhất danh sách và định mức thu của các hộ, Ủy ban xã C đã giao cho kế toán ngân sách xã tạm thu tiền đất và tiền ủng hộ ngân sách của các hộ và nộp vào Kho bạc Nhà nước theo quy định. Các hộ được duyệt thay thế trong đó có hộ ông Đ, thôn A xã C. Thời điểm đó hộ ông Đ không được Uỷ ban nhân dân huyện duyệt cấp đất ở; hộ ông Đ được Uỷ ban xã C thống nhất duyệt nộp thay thế quyết định cấp đất của bà Nguyễn Thị L ở thôn A (vị trí xin cấp là Ngõ ông T2) do bà L không có điều kiện và nhu cầu để nộp tiền đất theo quyết định của Ủy ban nhân dân huyện T phê duyệt. Do vậy, số tiền thu của ông Đ là nộp vào tiền đất theo quyết định của bà Nguyễn Thị L và số tiền còn lại nộp ủng hộ địa phương. Uỷ ban xã C đã giao cho công chức địa chính hoàn thiện các thủ tục, giấy tờ để trình Ủy ban nhân dân huyện X chuyển đổi quyết định cấp đất ở cho hộ ông Nguyễn Văn Đ và một số hộ khác cùng thời điểm đó theo quy định. Tuy nhiên, quá trình thực hiện nhiệm vụ có nhiều thủ tục nên chưa giải quyết dứt điểm các tồn tại về thu tiền đất ở của một số hộ vào năm 2006. Chính vì vậy, đến nay một số hộ được duyệt thay thế đã nộp tiền đất năm 2006 vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có hộ ông Đ. Uỷ ban xã C đã báo cáo và lập tờ trình kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện T xem xét, tạo điều kiện giải quyết tồn tại của 16 quyết định cấp đất tồn đọng được Ủy ban nhân dân huyện D từ năm 2006 trở về trước, Ủy ban xã C đã duyệt thay thế và thu tiền trong năm 2006. Nhưng đến nay, Ủy ban nhân dân huyện T vẫn đang xem xét để có giải pháp tháo gỡ tồn tại trong việc cấp đất ở tại xã C năm 2006.

Với nội dung như trên, tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 26/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã căn cứ Điều 30, khoản 1 Điều 31, các Điều 116, 173, 193, 194, 348, 351 của Luật Tố tụng Hành chính và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà T: Tuyên bố hành vi thu tiền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã C nhưng không nộp vào ngân sách Nhà nước mang tên ông Đ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, là trái pháp luật. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà T về việc buộc Ủy ban nhân dân xã C phải có trách nhiệm bồi thường, nộp toàn bộ tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ theo thông báo của Cơ quan thuế huyện T để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người khởi kiện. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà T về việc buộc Ủy ban xã C phải bồi thường chi phí luật sư và chi phí cần thiết cho việc khởi kiện là 50.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/10/2023, ông Nguyễn Văn Đ, bà Đỗ Thị T nộp Đơn kháng cáo một phần bản án Hành chính sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 26/9/2023. Lý do kháng cáo: Toà án cấp sơ thẩm đã không áp dụng đúng pháp luật khi quyết định. Do vậy, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng: Buộc Ủy ban nhân dân xã C phải có trách nhiệm bồi thường, nộp toàn bộ tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ theo thông báo của Cơ quan thuế huyện T để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho gia đình ông Đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo. Căn cứ vào Quyết định số 54 của Ủy ban nhân dân thành phố H về ban hành giá đất ngày 31/12/2019; căn cứ vào Điều 7 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, thiệt hại của ông Đ, bà T do hành vi thu tiền của Ủy ban xã C không nộp để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất cho ông Đ, bà T tính toán được là 120.000.000 đồng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, sửa bản án sơ thẩm.

Người bị kiện nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng Hành chính. Người khởi kiện, người bị kiện cơ bản đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của Luật Tố tụng Hành chính.

Về nội dung kháng cáo của người khởi kiện: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, chưa có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, bà T về việc buộc Uỷ ban xã phải bồi thường số tiền thiệt hại là 120.000.000 đồng. Do vậy, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông Đ, bà T, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính, bác kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Người khởi kiện – ông Đ, bà T khởi kiện đề nghị tuyên bố hành vi thu tiền sử dụng đất của Uỷ ban nhân dân xã nhưng không nộp vào Ngân sách nhà nước để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người khởi kiện, là trái pháp luật. Đối tượng khởi kiện là hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước là Uỷ ban xã nên Toà án cấp sơ thẩm giải quyết là đúng quy định của pháp luật. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng – Điều 30, khoản 1 Điều 31 của Luật Tố tụng Hành chính.

[2] Về thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày ông Đ, bà T biết được hành vi hành chính thu tiền sử dụng đất của ông Đ nhưng Ủy ban xã C không nộp vào ngân sách nhà nước để thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà T. Ngày 10/5/2021 là ngày Thanh tra huyện T có văn bản số 54/TTr-GQĐ trả lời cho ông Nguyễn Văn Đ về kiến nghị của ông Đ nên cần xác định đây là thời điểm ông Đ, bà T biết được hành vi hành chính của Uỷ ban xã C liên quan đến quyền và lợi ích của ông Đ, bà T. Người khởi kiện nộp Đơn khởi kiện ngày 15/6/2021 là trong thời hạn luật định nên Toà án có trách nhiệm giải quyết.

[3] Kháng cáo của người khởi kiện – ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T nộp trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm (Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính).

- Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T.

[4] Về nguồn gốc sử dụng đất: Ủy ban nhân dân xã CỦy ban nhân dân huyện T cho biết: Ông Nguyễn Văn Đ được Ủy ban nhân dân xã C giao đất tại vị trí thửa đất số 980, số 981 tờ bản đồ số 10 có nguồn gốc là đất nông nghiệp giao theo Quyết định số 03/QĐ-UB ngày 04/01/1994 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với các hộ gia đình sau: Thửa đất số 980, tờ bản đồ số 10, diện tích 103m² giao cho hộ bà Hồ Thị T3 được đăng ký trong Sổ mục kê ruộng đất năm 1990. Thửa đất số 981, tờ bản đồ số 10, diện tích 103m² đăng ký trong sổ mục kê ruộng đất năm 1990, tên chủ sử dụng “Khuân”. Theo Báo cáo số 32/BC-UBND ngày 09/8/2019 của Ủy ban nhân dân xã C, hộ ông Nguyễn Văn Đ đang sử dụng diện tích 200m2 tại thửa đất số 980+981, tờ bản đồ số 10. Hiện trạng trên diện tích đất là vườn cây, chưa xây dựng công trình nhà ở. Hiện tại, Ủy ban nhân dân xã C không cung cấp được hồ sơ tài liệu chứng minh về việc đã bồi thường cho các hộ dân được giao đất nông nghiệp tại vị trí các thửa đất nêu trên. Ủy ban nhân dân huyện T chưa ban hành quyết định thu hồi đất nông nghiệp của các hộ dân được giao đất. Do đó, việc tự ý giao đất, thu tiền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã C cho hộ ông Nguyễn Văn Đ làm nhà ở tại vị trí các thửa đất nêu trên là không phù hợp quy định của pháp luật, thuộc trường hợp giao không đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Căn cứ quy định tại khoản 19 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP và quy định tại khoản 2 Điều 18 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 17/01/2015 của Bộ T4 sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 24 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT thì việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn Đ tại thời điểm hiện nay là không đủ điều kiện vì những lý do: Vị trí giao đất đã xác định mục đích sử dụng là đất nông nghiệp của các hộ dân khác, chưa có quyết định thu hồi, bồi thường về đất; ông Nguyễn Văn Đ chưa xây dựng công trình nhà ở trên đất; Ủy ban nhân dân xã C không cung cấp được hồ sơ đã làm rõ và xử lý trách nhiệm đối với người giao đất không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

[5] Căn cứ vào Quyết định số 56AQĐ/UBND ngày 09/11/2006 của Ủy ban nhân dân xã C về việc thu tiền đất và ủng hộ ngân sách của các hộ hợp thức hoá đất ở năm 2006 trở về trước; Phiếu thu ngày 26/12/2006 đối với số tiền do ông Đ nộp là 26.000.000 đồng, lý do nộp: Tạm thu tiền đất, ủng hộ ngân sách; Phiếu thu ngày 26/12/2006 đối với số tiền do ông Đ nộp là 500.000 đồng, lý do nộp: Lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính; Văn bản số 108/VB-UBND ngày 24/12/2021 của Ủy ban nhân dân xã C, có cơ sở để xác định Ủy ban nhân dân xã C đã “tạm thu tiền đất và tiền ủng hộ ngân sách” của ông Nguyễn Văn Đ số tiền là 26.500.000 đồng.

[6] Ngày 16/9/2022, Phòng Tài nguyên và Môi trường Ủy ban nhân dân huyện T đã có Công văn số 289/TNMT-ĐĐ gửi Toà án cho biết như sau: Diện tích đất giao cho ông Đ là trái thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT ngày 17/01/2015 của Bộ T4 “Sửa đổi, bổ sung khoản 5, Điều 24 của Thông tư 23/2014/TT-BTNMT” thì việc cấp giấy chứng nhận đối với trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014 theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 được thực hiện như sau: Làm rõ và xử lý trách nhiệm đối với người giao đất không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Xem xét, quyết định đối với từng trường hợp cụ thể và chỉ cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp đã sử dụng đất ổn định, không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch....và thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật. Trường hợp giao đất làm nhà ở thì chỉ cấp giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân không có đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất được giao không đúng thẩm quyền. Về nghĩa vụ tài chính: Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP và khoản 4 Điều 2 Nghị định số 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017, hộ ông Nguyễn Văn Đ phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo giá đất quy định tại điểm b, c Điều 3 Nghị định này tại thời điểm có Quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp có giấy tờ chứng minh đã nộp đủ tiền để sử dụng đất theo quy định thì được trừ số tiền đã nộp vào tiền sử dụng đất phải nộp; mức nộp không vượt quá số tiền sử dụng đất phải nộp.

[7.1] Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc Ủy ban nhân dân xã C tự ý giao đất cho ông Nguyễn Văn Đ năm 2006 là thuộc trường hợp giao đất trái thẩm quyền (quy định tại Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ). Do đó, việc Ủy ban nhân dân xã C tự ý thu tiền của ông Nguyễn Văn Đ khi giao đất trái thẩm quyền cũng là không đúng quy định của pháp luật. Hiện tại, Phòng T - Ủy ban nhân dân huyện T cho biết việc cấp giấy chứng nhận cho hộ ông Nguyễn Văn Đ tại thời điểm hiện nay là không đủ điều kiện. Do vậy, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện về việc: Tuyên bố hành vi thu tiền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã C nhưng không nộp vào ngân sách nhà nước để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận cho gia đình ông Đ đối với diện tích đất Uỷ ban xã đã giao, là trái pháp luật.

[7.2] Hiện tại, Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng chưa giải quyết hậu quả việc Uỷ ban xã C đã giao đất trái thẩm quyền cho ông Đ. Ủy ban nhân dân huyện T chưa có Quyết định công nhận cho ông Đ được quyền sử dụng hợp pháp diện tích đất đã được Ủy ban nhân dân xã C giao trái thẩm quyền. Trường hợp được cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền công nhận ông Đ, bà T được sử dụng diện tích đất được giao là hợp pháp thì số tiền sử dụng đất mà ông Đ, bà T phải nộp là bao nhiêu cũng chưa được cơ quan có thẩm quyền xác định. Bản án sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của ông Đ là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm – khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính.

[7.3] Đối với yêu cầu của người khởi kiện về việc buộc Ủy ban nhân dân xã C phải bồi thường toàn bộ chi phí thuê luật sư và chi phí cần thiết để khởi kiện là 50.000.000 đồng, tại phiên toà sơ thẩm, người khởi kiện đã rút, xét thấy việc rút yêu cầu này của người khởi kiện là tự nguyện nên cần đình chỉ giải quyết - khoản 2 Điều 173 của Luật Tố tụng Hành chính.

[8.1] Về án phí hành chính sơ thẩm: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận một phần nên Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng phải chịu án phí hành chính sơ thẩm - Điều 348 của Luật Tố tụng Hành chính; khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

[8.2] Ông Đ, bà T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm đối với yêu cầu không được chấp nhận. Do ông Đ, bà T đều là người cao tuổi nên miễn phí cho ông Đ và bà T – Điều 348 của Luật Tố tụng Hành chính; khoản 1 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 2 của Luật Người cao tuổi.

[9] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo là ông Đ và bà T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Do ông Đ, bà T đều là người cao tuổi nên miễn phí cho ông Đ và bà T - khoản 1 Điều 349 của Luật Tố tụng Hành chính, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 2 của Luật Người cáo tuổi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính;

Bác kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, bà Đỗ Thị T và giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 26/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng;

Căn cứ vào Điều 23 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 173, Điều 348, khoản 1 Điều 349 của Luật Tố tụng hành chính, khoản 1, 2 Điều 32, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T:

  1. Tuyên bố hành vi thu tiền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng nhưng không nộp vào ngân sách nhà nước để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T, là trái pháp luật.

  2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T về việc: Buộc Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng phải có trách nhiệm bồi thường, nộp toàn bộ tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ theo thông báo của Cơ quan thuế huyện T để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho gia đình ông Nguyễn Văn Đ.

  3. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T về việc: Buộc Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng phải bồi thường toàn bộ chi phí thuê luật sư và chi phí cần thiết để khởi kiện là 50.000.000 đồng.

  4. Về án phí hành chính sơ thẩm:

    • 4.1. Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hành chính sơ thẩm.

    • 4.2. Miễn án phí hành chính sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T.

  5. Về án phí hành chính phúc thẩm:

    Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Đỗ Thị T.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,9 của Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;

  • - TAND huyện Thuỷ Nguyên;

  • - VKSND huyện Thuỷ Nguyên;

  • - UBND huyện Thuỷ Nguyên

  • (cấp trên của người bị kiện);

  • - Chi Cục THA dân sự huyện

  • Thuỷ Nguyên;

  • - Đương sự;

  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/HC-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai

  • Số bản án: 01/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger