Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CỬA LÒ

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 01/2024/DSST

Ngày 26/04/2024

“V/v yêu cầu tháo dỡ tài sản xây dựng
trên đất và công nhận quyền sử dụng đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Khánh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thức Phong

Ông Chế Đình Sơn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26/04/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 05/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024 về “Yêu cầu tháo dỡ tài sản xây dựng trên đất” và “Công nhận quyền sử dụng đất” giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  • +. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974
  • Trú tại: Xóm P, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
  • +. Bà: Nguyễn Thị Cẩm V, sinh ngày 28/06/1994
  • Trú tại: Khối 03, phường Nghi Hòa, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An
  • Là: Người giám hộ của ông Nguyễn Hữu H1, trú tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An
  • +. Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Khắc T, sinh năm 1957
  • Trú tại: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: K, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Năm 1993, bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1 kết hôn. Năm 1994, vợ chồng bà H, ông Hóa s được một người con gái tên là Nguyễn Thị Cẩm V. Trong thời kỳ hôn nhân, ông H1, bà H được UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Nay là phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An) cấp cho 200m² đất ở theo biên bản giao đất ở ngày 06/4/1994 và Giấy thu lệ phí đất ở cũng cùng ngày 06/4/1994. Ngày 11/8/1994, ông H1, bà H được UBND xã N cấp cho 2.700m² đất theo biên bản giao đất ngày 11/8/1994 trên cơ sở xin nộp lệ phí của ông H1, bà H và phiếu thu lệ phí đất vườn ngày 10/8/1994 của UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đến năm 2006, UBND thị xã C đo đạc lại thửa đất xác định vị trí và diện tích của thửa đất trên bản đồ địa chính thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456.2m², địa chỉ tại khối P, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất số hiệu mảnh đồ gốc: 079602-8-d và biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất (Theo hiện trạng sử dụng) do UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An xác nhận ngày 14/10/2006 đứng tên ông Nguyễn Hữu H1.

Quá trình bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1 sử dụng đất đã bị ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3 xây bờ rào lấn chiếm phần phía Nam thửa đất 3 mét chiều ngang, chiều dài 46m và xây bờ tường cao 70cm (Hướng thửa đất xác định theo biên bản giao đất ngày 11/8/1994 của UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, nay là phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An). Sự việc đã được UBND phường N hòa giải nhưng không thành.

Việc xây bờ rào lấn chiếm đất của ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3 đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sử dụng đất hợp pháp của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp, nguyên đơn yêu cầu Tòa án:

  • Công nhận quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1 đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456.2m², địa chỉ tại khối D (Khối P cũ), phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất số hiệu mảnh đồ gốc: 079602-8-d và biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất (Theo hiện trạng sử dụng) do UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An xác nhận ngày 14/10/2006 đứng tên ông Nguyễn Hữu H1.
  • Buộc ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3 tháo dỡ bờ rào cao 70cm để trả lại phần diện tích đất 3 mét chiều ngang, chiều dài 46m (Hướng thửa đất xác định theo biên bản giao đất ngày 11/8/1994 của UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Nay là phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An) cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1.

Hồ sơ pháp lý nguyên đơn nộp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình gồm:

  1. Biên bản giao đất ở đề ngày 06/4/1994 có xác nhận của UBND xã N ngày 08/04/1994
  2. Giấy thu lệ phí đất ở ngày 06/4/1994 có xác nhận của UBND xã N ngày 08/04/1994;
  3. Biên bản giao đất ngày 11/8/1994 của UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An;
  4. Đơn xin xác nhận chữ ký của công dân – Ông Nguyễn Minh B, ông Nguyễn Phi L có chứng thực của UBND phường N ngày 11/12/2023;
  5. Đơn xin nạp lệ phí đất vườn của bà Nguyễn Thị H ngày 09/8/1994;
  6. Phiếu thu số 69 ngày 10/8/1994 của UBND xã N;
  7. Sơ đồ thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12 tại khối P, phường N có xác nhận của UBND phường N;
  8. Biên bản xét duyệt Nguồn gốc và thời điểm bắt đầu sử dụng đất ngày 24/3/2023 của Hội đồng đăng ký đất đai phường N;
  9. Phiếu lấy ý kiến khu dân cư khối D, phường N ngày 27/02/2023 về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12 tại khối P, phường N của ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H;
  10. Phiếu lấy ý kiến khu dân cư khối D, phường N ngày 20/03/2023 về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12 tại khối P, phường N của ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H;
  11. Biên bản làm việc của UBND phường N về việc xác minh nguồn gốc, ranh giới, mốc giới đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12 tại khối P, phường N của ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H;
  12. Giấy xác nhận nguồn gốc và thời gian sử dụng đất ngày 20/5/2023 của Hội đồng xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12 tại khối P, phường N của ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H;
  13. Đơn xin xác nhận chữ ký ngày 04/8/2023 của bà Nguyễn Thị Cẩm V có xác nhận của UBND phường N, thị xã C;
  14. Quyết định số 04/2021/QĐST – ST ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò;
  15. Quyết định số 11/2013/QĐST ngày 03/4/2013 của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò;
  16. Giấy ủy quyền của bà H, bà V cho ông Nguyễn Khắc T ngày 18/12/2023 có chứng thực của UBND phường N;
  17. Biên bản hòa giải không thành ngày 05/01/2024 của UBND phường N;
  18. Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 14/10/2006 và Hồ sơ kỹ thuật thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12 tại khối P, phường N ngày 06/12/2006 của UBND phường N, thị xã C;

Nguyên đơn không có ý kiến gì về việc định giá tài sản và xem xét, thẩm định, không yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định và định giá lại tài sản. Tuy nhiên nguyên đơn cho rằng, theo đo đạc bằng thước tay, bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1 đã bị vợ chồng ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3, xây bờ rào lấn chiếm phần phía Nam thửa đất bà H3, ông H1 mặc dù nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Vì thực tế, nếu ông H2 và bà H3 không xây bờ rào lấn chiếm đất của ông H1, bà H3 thì tại sao họ không đến tham gia hòa giải tại UBND phường để hòa giải với nguyên đơn.

Việc hòa giải giữa nguyên đơn và bị đơn đã được tòa án gọi nhiều lần nhưng phía ông H2, bà H3 không có thiện chí, không có mặt đầy đủ để tham gia hòa giải. Hơn nữa, sự việc đã được hòa giải tại UBND phường nhưng không thành. Do đó nguyên đơn, đề nghị tòa án không tiếp tục tổ chức hòa giải giữa các bên nữa mà đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn không có ý kiến gì về việc xem xét, thẩm định và định giá tài sản, khẳng định phần bờ rào ông H2, bà H3 xây chồng lấn sang đất của ông H1, bà H3 là bờ rào xây bằng táp lô, không da trát có kích thước dài 22,51m, cao 1,15m đúng như kết quả xem xét, thẩm định. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định và định giá lại tài sản.

Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu và đề nghị Tòa án căn cứ vào hồ sơ vụ án, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ để giải quyết vụ án, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3 trình bày:

Ông Nguyễn Văn H2, bà Võ Thị H3 là người sử dụng đất giáp ranh với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12 của ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H. Quá trình sử dụng đất ông H1, bà H cho rằng ông H2, bà H xây bờ tường cao khoảng 70cm chồng lấn sang diện tích thuộc quyền sử dụng của bà H, ông H1 và hiện đang có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông H2, bà H khẳng định bờ rào đó là của ông H2, bà H xây dựng nhưng cho rằng chưa có cơ sở để xác định vợ chồng ông H2, bà H xây bờ tường rào chồng lấn sang đất của bà H, ông H1

vì ông H2, bà H là người dân nên không có phương tiện máy móc để xác định đúng vị trí diện tích đất thuộc quyền sử dụng của ông bà khi xây dựng, hơn nữa trên thực địa, tiếp giáp giữa đất ông H2 bà H và ông H1, bà H là vùng đất trống, cây cối nhiều, diện tích rộng, ranh giới không rõ ràng, quá trình xây dựng có thể ông H2, bà H có xây bờ rào lấn sang đất ông H1, bà H nhưng đây là do nhầm lẫn, ông H2 bà H không bao giờ có ý định lấn chiếm đất đai của ông H1, bà H. Vì vậy ông H2, bà H đề nghị Tòa án kiểm tra trên thực tế, nếu bờ rào do ông H2, bà H xây dựng có chồng lấn sang thửa đất số 03 thì đề nghị ông H1 bà H phải thanh toán một số tiền để di chuyển, tháo dỡ bờ rào vì ông bà không cố ý xây chồng lấn, số tiền cụ thể do hai bên thỏa thuận. Sau khi bà H, ông H1 thanh toán xong cho ông H2, bà H số tiền để di chuyển, tháo dỡ bờ rào, ông H2, bà H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

- Chị Nguyễn Thị Cẩm V – con gái ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H trình bày:

Chị Nguyễn Thị Cẩm V là con đẻ của ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H. Ngoài chị V ra, bố mẹ chị V không có bất kỳ người con đẻ hay con nuôi nào khác. Ngày 06/4/1994 – khi chị V chưa sinh ra, bố mẹ chị V mới lấy nhau và được UBND xã N, huyện N (Nay là UBND phường N, thị xã C) cấp cho 200m² đất ở theo biên bản giao đất ở ngày 06/4/1994 và Giấy thu lệ phí đất ở cùng ngày 06/4/1994. Việc cấp đất có hồ sơ pháp lý đầy đủ, đã được đại diện Ban tài vụ là ông Nguyễn Hữu V1 và Ban Q – ông Nguyễn Phi L ký xác nhận.

Ngày 11/8/1994, bố mẹ chị V1 được UBND xã N cấp cho 2.700m² đất theo biên bản giao đất ngày 11/8/1994 trên cơ sở đơn xin nộp lệ phí của ông H1, bà H và phiếu thu lệ phí đất vườn ngày 10/8/1994 của UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Chị V1 khẳng định việc cấp đất có thu phí nêu trên của UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nay là UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An là cấp cho bố mẹ chị V1 – ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H, ngoài ra không cấp cho bất kỳ ai khác, kể cả cá nhân chị V1. Tại thời điểm UBND xã N cấp đất lần đầu gia đình chị H chỉ có bố mẹ chị là ông H1, bà H. Thời điểm cấp 11/8/1994 gia đình chị V1 lúc đó mới sinh ra chưa được 02 tháng ở cùng với bố mẹ, ngoài ra cũng không có bất kỳ ai khác và đất cũng được UBND xã cấp cho bố mẹ chị V1, tiền để nộp lệ phí theo quy định cho UBND xã cũng là tiền của bố mẹ chị V1, không phải là tiền của chị V1, không phải là tiền của bất kỳ ai khác. Chị V1 không có bất kỳ quyền lợi gì liên quan đến diện tích đất mà UBND xã N cấp cho ông H1, bà H.

Đến năm 2006, UBND thị xã C đo đạc lại thửa đất xác định vị trí và diện tích của thửa đất trên bản đồ địa chính thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456.2m², địa chỉ tại khối P, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Đây là tài sản chung của bố mẹ chị V1 tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân. Bản thân chị V1 không có bất kỳ quyền lợi gì liên quan đến thửa đất số 03 là tài sản chung của bố mẹ chị V1 tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, chị V1 đề nghị Tòa án không triệu tập chị đến Tòa án làm việc, không đưa chị vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Nếu Tòa án triệu tập với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị V1 cũng từ chối tham gia và cam kết không có khiếu nại, thắc mắc gì. Về quan điểm giải quyết vụ việc, chị V1 đề nghị Tòa án:

  1. Công nhận quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1 đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456.2m², địa chỉ tại khối D (Khối P cũ), phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất số hiệu mảnh đồ gốc: 079602-8-d và biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất (Theo hiện trạng sử dụng) do UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An xác nhận ngày 14/10/2006 đứng tên ông Nguyễn Hữu H1.
  2. Buộc ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3 tháo dỡ bờ rào xây chồng lấn để trả lại nguyên trạng đất cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1.

Tại giấy xác nhận nguồn gốc và thời gian sử dụng đất của Hội đồng xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND phường N, thị xã C ngày 20/05/2023 xác định:

Gia đình ông Nguyễn Hữu H1 và bà Nguyễn Thị H sử dụng đất từ năm 1994 do UBND xã N giao với diện tích 200m² (Có Biên bản giao đất ở và giấy thu lệ phí đất ở). Đến tháng 08/1994 bà H khai hoang phần đất nông nghiệp xung quanh để làm vườn, chuồng trại để chăn nuôi, sản xuất (Có đơn nạp lệ phí đất vườn và phiếu thu lệ phí đất vườn kèm theo). Gia đình sử dụng ổn định đến năm 1996 đo đạc tại thửa 103, tờ bản đồ số 16, diện tích: 2468.0m². Gia đình tiếp tục sử dụng liên tục, không tranh chấp đến năm 2006 đo đạc tại thửa 03, tờ bản đồ số 12, diện tích: 2456.2m². Đến năm 2013 vợ chồng ông H1 ly hôn. Theo biên bản kiểm tra hiện trạng là thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích: 2456.2m². Diện tích hiện trạng không thay đổi so với bản đồ địa chính năm 2006 và giảm 11.8m² so với bản đồ địa chính năm 1996 là do sai số đo đạc. Gia đình đã hoàn thành nghĩa vụ thuế hàng năm đầy đủ. Kể từ năm 1994 cho đến nay hiện trạng không có tranh chấp phù hợp với quy hoạch đất của địa phương. Đề nghị cấp có

thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H.

Tại biên bản làm việc ngày 20/03/2023 của UBND phường N với các chủ sử dụng đất cùng thời kỳ với ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H đã xác định: Gia đình ông H1, bà H sử dụng liên tục, ổn định, đúng mục đích, không có tranh chấp, không lấn chiếm, ranh giới, mốc giới rõ ràng, hàng năm gia đình thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước, đã xây dựng nhà ở. Đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H theo kết quả kiểm tra hiện trạng tại thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích: 2456.2 m².

Tại phiếu lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích: 2456.2 m² ngày 27/02/2023 và 20/03/2023 của các hộ dân cư khối 04, phường N do UBND phường N tổ chức đã xác định nguồn gốc thửa đất số 03 nêu trên:

Gia đình ông Nguyễn Hữu H1 và bà Nguyễn Thị H sử dụng đất từ năm 1994 do UBND xã N cấp với diện tích 200.0m² (Có Biên bản giao đất ở và giấy thu lệ phí đất ở). Đến tháng 08/1994 bà H khai hoang phần đất nông nghiệp xung quanh để làm vườn, chuồng trại để chăn nuôi, sản xuất (Có đơn nạp lệ phí đất vườn và phiếu thu lệ phí đất vườn kèm theo). Gia đình sử dụng ổn định đến năm 1996 đo đạc tại thửa 103, tờ bản đồ số 16, diện tích: 2468m². Gia đình tiếp tục sử dụng liên tục, không tranh chấp. Đến năm 2013 vợ chồng ông H1 ly hôn. Theo biên bản kiểm tra hiện trạng là thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích: 2456.2m². Diện tích hiện trạng không thay đổi so với bản đồ địa chính năm 2006 và giảm 11.8m² so với bản đồ địa chính năm 1996 là do sai số đo đạc. Đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch.

Tại biên bản làm việc ngày 24/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò với UBND phường N, UBND phường đã khẳng định:

Nguồn gốc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích: 2456.2m² được UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cấp cho ông Nguyễn Hữu H1 vào năm 1994 có thu tiền sử dụng đất

Căn cứ vào các giấy tờ, hồ sơ cấp đất từ năm 1994 của ông Nguyễn Hữu H1 thì thửa đất đang tranh chấp chỉ có 200m² đất ở, còn lại là đất vườn.

Tại UBND phường N, thị xã C hiện đang lưu trữ bản sao các giấy tờ pháp lý (Biên bản giao đất ở đề ngày 06/4/1994, Giấy thu lệ phí đất ở ngày 06/4/1994, Biên bản giao đất ngày 11/8/1994, Phiếu thu số 69 ngày 10/8/1994...). UNND

phường đã hoàn tất tất cả hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này cho ông H1 và bà H theo đúng quy định và đã gửi lên UBND thị xã để thẩm định. Tuy nhiên, vì có tranh chấp ranh giới với hộ liền kề nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa thực hiện được.

Đến năm 2023, gia đình ông Nguyễn Hữu H1 không nợ thuế đối với phần diện tích đất xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện tại thửa đất số 03 nêu trên phù hợp với quy hoạch.

Đối với các tài liệu do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: Biên bản giao đất ở ngày 06/4/1994; Giấy thu lệ phí đất ở ngày 06/4/1994; Biên bản giao đất ngày 11/8/1994 của UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và phiếu thu số 69 ngày 10/8/1994.

UBND phường N xác nhận: Tại thời điểm tháng 4 năm 1994, ông Nguyễn Phi L là cán bộ Ban quản lý ruộng đất xã N, ông Nguyễn Hữu V1 là kế toán trưởng UBND xã N, ông Nguyễn Minh B là Phó Chủ tịch UBND xã N. Việc ông Nguyễn Phi L, ông Nguyễn Hữu V1 và ông Nguyễn Minh B ký vào các văn bản nêu trên là đúng với nhiệm vụ, thẩm quyền của họ.

Quá trình gia đình ông H1 làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì UBND phường N đã tiến hành xác minh chữ ký trong biên bản giao đất ở của ông Nguyễn Phi L và ông Nguyễn Minh B thì đúng là chữ ký của hai người này và dấu đỏ đóng trong biên bản là dấu Quốc huy của UBND xã N, huyện N vào thời điểm đó.

Giấy thu lệ phí đất ở ngày 06/4/1994 và Phiếu thu số 69 ngày 10/8/1994 đều do ông Nguyễn Hữu V1 - Kế toán trưởng UBND xã N viết;

Biên bản giao đất ngày 11/8/1994 là do ông Nguyễn Phi L - cán bộ ban quản lý ruộng đất viết; ông Nguyễn Minh B - Phó Chủ tịch UBND xã N ký và đóng dấu Quốc huy của UBND xã N, huyện N.

Đơn xin nạp lệ phí đất vườn của bà Nguyễn Thị H đề ngày 09/8/1994 do ông Nguyễn Minh B- Phó Chủ tịch UBND xã N thời điểm đó bút phê vào trong đơn và ký nhận.

Về việc giải quyết vụ án, UBND phường N đề nghị Tòa án căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để công nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 và bà H đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456,2m², địa chỉ tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân.

Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá ngày 12 tháng 3 năm 2024 thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12 tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ

An không thay đổi so với bản đồ đo đạc chính quy năm 2006: diện tích 2.456,2m², có ranh giới, tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường có chiều dài 50,78m; phía Tây giáp đường có chiều dài 46,81m; phía Nam giáp đất trồng cây lâu năm do UBND phường N quản lý có chiều dài 49,21m (Không chồng lấn); phía Bắc giáp đất CLN 01 và BHK (Tờ số 5) có kích thước: 11,13m + 39,40m + 1,62m.

Cạnh phía Nam tiếp giáp với bờ rào xây bằng táp lô, không da trát có kích thước dài 22,51m, cao 1,15m. Trên đất, có tường rào xây bằng táp lô, không da trát nằm ở cạnh phía Bắc kéo dài vây quanh ½ thửa đất, trên ½ diện tích này có 01 căn nhà cấp bốn cũ nát, sập mái. Phía Đông thửa đất có 05 cây bạch đàn to (Cây to nhất có vanh 115cm); phía Nam thửa đất có một số cây bạch đàn nhỏ. Tuy nhiên, nguyên đơn không yêu cầu xem xét, thẩm định và định giá bờ rào táp lô vây quanh ½ thửa đất, nhà cấp bốn cũ nát, sập mái và cây cối trên đất.

Trị giá đất ở: 3.000.000 đồng/m²; đất vườn: 66.000 đồng/m².

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

  • Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý vụ án, thông báo thụ lý vụ án, xác định quan hệ tranh chấp, xác minh và thu thập chứng cứ, tổ chức hòa giải cũng như thời hạn xét xử.
  • Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định về thành phần, nguyên tắc xét xử, trình tự tố tụng tại phiên tòa.
  • Thư ký Tòa án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Bị đơn chấp hành không đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản Điều 5, Điều 99; Điều 100; Điều 125; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai; Điều 175 Bộ luật dân sự 2015.
  • +. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công nhận quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1 đối với thửa đất số 3, tờ bản đồ 12 diện tích 2.456,2m² (Trong đó: Đất ở 200m2, đất vườn 2.256,2m²) địa chỉ tại khối D, (khối P cũ), phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An có ranh giới tứ cận như sau:
    • Phía đông giáp đường có chiều dài 50,78m.
    • Phía Tây giáp đường có chiều dài 46,81m.
  • Phía Nam giáp đất trồng cây lâu năm do UBND phường N quản lý có chiều dài 49,21m.
  • Phía Bắc giáp đất CLN01 và BHK tờ số 5 có kích thước 11,13m + 39,40m + 1,62m.
  • + Không chấp nhận đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3 tháo dỡ bờ rào xây bằng táp lô, không da trát có kích thước dài 22,51m, cao 1,15m
  • - Chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm d Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: miễn án phí 150.000 đồng cho nguyên đơn Nguyễn Hữu H1, buộc nguyên đơn Nguyễn Thị H phải chịu 150.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp. Trả lại cho Nguyễn Thị H số tiền 150.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
  • - Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456.2m², địa chỉ tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An và đề nghị Tòa án buộc bị đơn tháo dỡ bờ rào xây chồng lấn để trả lại nguyên trạng đất cho nguyên đơn. Do đó quan hệ tranh chấp là tranh chấp buộc tháo dỡ tài sản trên đất và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất đã được UBND phường N, thị xã C tiến hành hòa giải nhưng không thành. Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự chấp hành pháp luật tố tụng của các đương sự: Đại diện ủy quyền của nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành không nghiêm chỉnh các quy định về quyền và nghĩa vụ tố tụng, không tham gia đầy đủ các buổi công khai chứng cứ và hòa giải do Tòa án tổ chức theo quy định, mặc dù đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Quá trình tố tụng, Tòa án đã ban hành Thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ theo khoản 5 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng các đương sự không có bất

cứ phản hồi gì về các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên được Hội đồng xét xử sử dụng làm chứng cứ xem xét khi giải quyết vụ án.

[1.4]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập hợp lệ cho bị đơn nhưng bị đơn có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.5]. Về sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa: Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[2]. Về nội dung khởi kiện:

[2. 1]. Về nguồn gốc thửa đất thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12 tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An

Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456.2m², địa chỉ tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An có nguồn gốc do UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An) cấp cho ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H hai lần, cụ thể: ngày 06/4/1994 cấp cho 200m² đất ở theo biên bản giao đất ở và Giấy thu lệ phí đất ở cùng ngày 06/4/1994 và ngày 11/8/1994, UBND xã N cấp cho 2.700m² đất theo biên bản giao đất ngày 11/8/1994 và phiếu thu lệ phí đất vườn ngày 10/8/1994 của UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Như vậy, tổng diện tích hai lần UBND xã N cấp có thu lệ phí cho ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H là 2900m². Tuy nhiên, theo đo đạc năm 2006 của UBND thị xã C đo đạc lại thửa đất xác định vị trí và diện tích của thửa đất trên bản đồ địa chính thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456,2m², địa chỉ tại khối P, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An.

Theo xác nhận của Hội đồng xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND phường N và ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích: 2456.2 m² đều khẳng định thửa đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H, thửa đất không nằm trong quy hoạch. UBND phường N đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho ông H1 và bà H đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456,2m², địa chỉ tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người dân. Theo xác định của UBND phường N thửa đất của ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H có 200m² đất ở, còn lại là đất vườn (2.256m²)

Như vậy, đủ cơ sở để xác định thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456,2m², địa chỉ tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An thuộc quyền sử

dụng hợp pháp của ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H do UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An) cấp có thu lệ phí theo quy định.

[2.2]. Về xem xét, thẩm định, định giá tài sản.

Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá ngày 12 tháng 3 năm 2024 thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12 tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An không thay đổi so với bản đồ đo đạc chính quy năm 2006 có diện tích 2.456,2m², ranh giới, tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường có chiều dài 50,78m; phía Tây giáp đường có chiều dài 46,81m; phía Nam giáp đất trồng cây lâu năm do UBND phường N quản lý có chiều dài 49,21m (Không chồng lấn); phía Bắc giáp đất CLN 01 và BHK (Tờ số 5) có kích thước: 11,13m + 39,40m + 1,62m.

Kết quả xem xét, thẩm định Tòa án đã xác định việc bị đơn xây bờ rào bằng táp lô, không da trát có kích thước dài 22,51m, cao 1,15m là có thật nhưng không chồng lấn sang đất của nguyên đơn. Nguyên đơn không có ý kiến gì về việc định giá tài sản và xem xét, thẩm định, không yêu cầu Tòa án xem xét, thẩm định và định giá lại tài sản nhưng theo suy nghĩ chủ quan của nguyên đơn, theo đo đạc bằng thước tay bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1 đã bị vợ chồng ông H2 và bà H xây bờ rào lấn chiếm phần phía Nam thửa đất bà H, ông H1 mặc dù nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh chỉ với suy nghĩ chủ quan, nếu ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3 không lấn chiếm đất của ông H1, bà H3 thì tại sao họ không đến tham gia hòa giải tại UBND phường. Quan điểm của nguyên đơn chỉ là suy nghĩ chủ quan, không có căn cứ pháp lý nên không có cơ sở để chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ để giải quyết vụ án.

[2.3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

[2.3.1]. Đối với yêu cầu đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1 đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456.2m², địa chỉ tại khối D (Khối P cũ), phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An.

Như đã phân tích trên, thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456.2m², địa chỉ tại khối D (Khối P cũ), phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An có nguồn gốc do UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND phường N, thị xã C) cấp có thu lệ phí theo quy định cho ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H. Dó đó, nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.456.2m², địa chỉ tại khối D, phường N, thị

xã C, tỉnh Nghệ An có tứ cận: Phía Đông giáp đường có chiều dài 50,78m; phía Tây giáp đường có chiều dài 46,81m; phía Nam giáp đất trồng cây lâu năm do UBND phường N quản lý có chiều dài 49,21m (Không chồng lấn); phía Bắc giáp đất CLN 01 và BHK (Tờ số 5) có kích thước: 11,13m + 39,40m + 1,62m. Chiều dài cạnh thửa đất cụ thể như sau: Cạnh 1 – 2: 11.13m; Cạnh 2-3: 39.40m; Cạnh 3 – 4: 1.61m; Cạnh 4 – 5: 6.22m; Cạnh 5 – 6: 44.56m; Cạnh 6-7: 49,21; C – 1: 46.81m có cơ sở pháp lý để chấp nhận. Theo xác định của UBND phường N thửa đất của ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H có 200m² đất ở, còn lại là đất vườn (2.256,2m²). Do nguyên đơn không yêu cầu xem xét, giải quyết các tài sản trên đất nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm các thủ tục được hưởng các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

[2.3.2]. Đối với yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3 tháo dỡ bờ rào để trả lại phần diện tích đã xây chồng lấn cho bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn khẳng định phần bờ rào ông H2, bà H xây chồng lấn sang đất ông H1, bà H là bờ rào xây bằng táp lô, không da trát có kích thước dài 22,51m, cao 1,15m đúng như kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ nhưng nguyên đơn không cung cấp được căn cứ pháp lý chứng minh. Nguyên đơn hoàn toàn thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ. Mặt khác, kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ đã xác định trên thực địa thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, diện tích đúng, đủ 2.456.2m² theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất số hiệu mảnh đồ gốc: 079602-8-d và biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất (Theo hiện trạng sử dụng) do UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An xác nhận ngày 14/10/2006 đứng tên ông Nguyễn Hữu H1. Bờ rào của ông H2, bà H xây dựng không chồng lấn sang diện tích đất của thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3 tháo dỡ bờ rào xây bằng táp lô, không da trát có kích thước dài 22,51m, cao 1,15m.

[2.4]. Về chi phí tố tụng.

Qúa trình tố tụng, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết các vấn đề liên quan đến chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[3]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định nhưng do ông Nguyễn Hữu H1 là người khuyết tật đặc biệt nặng, người giám hộ

có đơn xin miễn án phí nên cần miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Hữu H1; Buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[4]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định.

[5] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 5, Điều 99; Điều 100; Điều 125; Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Điều 158; Điều 163, Điều 164, Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015;

Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014

Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1].Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công nhận quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hữu H1 đối với thửa đất số 03, tờ bản đồ 12 diện tích 2.456.2m². Mục đích sử dụng: đất ở 200m², đất vườn 2256.2m², địa chỉ tại khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An có tứ cận: Phía Đông giáp đường có chiều dài 50,78m; phía Tây giáp đường có chiều dài 46,81m; phía Nam giáp đất trồng cây lâu năm do UBND phường N quản lý có chiều dài 49,21m (Không chồng lấn); phía Bắc giáp đất CLN 01 và BHK (Tờ số 5) có kích thước: 11,13m + 39,40m + 1,62m.

Chiều dài cạnh thửa đất cụ thể như sau: Cạnh 1 – 2: 11.13m; Cạnh 2 - 3: 39.40m; Cạnh 3 – 4: 1.61m; Cạnh 4 – 5: 6.22m; Cạnh 5 – 6: 44.56m; Cạnh 6-7: 49,21; C – 1: 46.81m.

(Có sơ đồ kỹ thuật chi tiết kèm theo bản án)

Ông Nguyễn Hữu H1, bà Nguyễn Thị H đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm các thủ tục được hưởng các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

[2]. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn Văn H2 và bà Võ Thị H3 tháo dỡ bờ rào xây bằng táp lô, không da trát có kích

thước dài 22,51m, cao 1,15m (Phía Nam thửa đất số 03, tờ bản đồ 12 khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An).

[3]. Về chi phí tố tụng: Miễn xét

[4]. Về án phí:

  • Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Hữu H1
  • Buộc bà Nguyễn Thị H phải chịu 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp. Trả lại cho bà Nguyễn Thị H 150.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008774 ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

[5]. Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (Sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (Sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (Sửa đổi bổ sung năm 2014).

[6]. Quyền kháng cáo:

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TX Cửa Lò;
  • - Chi cục TX Cửa Lò;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/DSST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ – TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu tháo dỡ tài sản xây dựng trên đất và công nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 01/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tháo dỡ tài sản xây dựng trên đất và công nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: V/v yêu cầu tháo dỡ tài sản xây dựng trên đất và công nhận quyền sử dụng đất ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger