Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 01/2024/DSPT

Ngày: 07/11/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng xây dựng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2024/TLPT-DS ngày 07/10/2024 về “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2024/QĐ-PT, ngày 21/10/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Vũ Văn H, sinh năm 1962; Địa chỉ: Khu Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  • Bị đơn: Công ty T; Địa chỉ: D, tỉnh lộ 271, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn Đ - chức vụ: Tổng giám đốc (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Lê Q, sinh năm 1970; Địa chỉ: Khu phố C, C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
  2. Ông Ngô Bá Đ1, sinh năm 1981; Địa chỉ: A đường N, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

Người kháng cáo: Ông Vũ Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn là ông Vũ Văn H trình bày: Ông H quen biết ông Đ qua giới thiệu và cũng quen biết ông Q, anh Đ1 do hai người trước đây đã từng làm thuê cho ông H.

Ngày 05/10/2021 Công ty T do ông Đ làm giám đốc (gọi tắt là: Bên A) và Nhà phân phối T - là tên cửa hàng phân phối sơn của gia đình ông H (gọi tắt là: Bên B) có ký kết hợp đồng giao khoán. Theo nội dung của hợp đồng thì bên B sẽ thi công hạng mục sơn nền nhà xưởng cho bên A. Ngoài ra trong hợp đồng còn thỏa thuận về việc thanh toán: Đợt 1: 30% khi nhân công vào thi công và tập kết nguyên vật liệu tại bên A; Đợt 2: 50% số tiền còn lại khi hoàn thiện xong công trình và nghiệm thu bàn giao; Đợt 3: Thanh toán giá trị còn lại trong vòng 01 tháng (30 ngày) kể từ sau ngày thanh toán đợt 2.

Sau khi ký kết hợp đồng, ngày 06/10/2021 ông H đã mang nguyên vật liệu và nhân công đến để thi công nhưng đã thấy tổ thợ của ông Q đến sớm hơn, cũng mang nguyên vật liệu và đang thi công nên ông H cho tổ thợ của mình cùng nguyên vật liệu ra về, không làm nữa. Toàn bộ việc thi công là do nhóm thợ của ông Trần Lê Q và anh Ngô Bá Đ1 thực hiện.

Ngày 08/10/2021 bên A và bên B ký biên bản nghiệm thu khối lượng công việc đã hoàn thành. Theo đó thì tổng giá trị tiền mà bên A phải thanh toán cho bên B là 68.810.000 đồng. Ông H là người ký kết hợp đồng và là người ký nghiệm thu khối lượng công việc, không phải là người trực tiếp thi công. Trước đó ông H, ông Q và ông Đ1 không có thỏa thuận bằng văn bản về tỉ lệ được hưởng số tiền theo kết quả nghiệm thu của công trình.

Bên A đã thanh toán bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của ông H số tiền 40.000.000 đồng làm hai lần, cụ thể: Ngày 7/10/2021 thanh toán 20.000.000 đồng và ngày 8/10/2021 thanh toán 20.000.000 đồng. Sau khi nhận được số tiền trên ngày 8/10/2021 ông H đã thanh toán bằng hình thức chuyển khoản cho anh Đ1 số tiền 30.000.000 đồng.

Theo thỏa thuận ngày 8/11/2021 bên B phải thanh toán nốt cho bên A số tiền là 28.810.000 đồng, tuy nhiên đến nay ông H xác nhận bên A vẫn chưa thanh toán. Do đó ông H khởi kiện yêu cầu bên A phải thanh toán số tiền 28.810.000 đồng và lãi suất chậm thanh toán theo quy định của pháp luật từ ngày 9/11/2021 đến nay.

Bị đơn là Công ty T do ông Nguyễn Văn Đ là người đại diện theo pháp luật trình bày: Ông Đ quen biết ông H. Ông Đ cũng nhờ ông G (bạn của ông Đ) cung cấp số điện thoại của ông Q, để nhờ ông Q sơn nền xưởng cho Công ty T. Ông Đ trao đổi và thỏa thuận ông Q sẽ là người thi công sơn nền cho Công ty. Nhưng vì ông Q chỉ là cá nhân, không có cửa hàng riêng nên sẽ không thuận tiện cho việc thanh toán sau này với Công ty. Vì vậy ông Đ và ông Q thống nhất sẽ nhờ ông H đứng ra để giao kết hợp đồng giao khoán.

Ngày 05/10/2021 bên A là Công ty T và bên B là Nhà phân phối Trường Lâm có ký Hợp đồng giao khoán. Ngày 06/10/2021 nhóm thợ của ông Q đến và mang theo nguyên vật liệu để thi công. Vì ngày hôm trước ký hợp đồng ông Q và ông H đã thỏa thuận để ông Q là người thi công. Sau này được biết ông Q nhờ tổ thợ của anh Ngô Bá Đ1 trực tiếp thi công. Bên A có khiếu nại về chất lượng công trình với ông Q về bề mặt sơn mỏng một số vị trí. Sau đó đã được ông Q khắc phục xong. Đến nay không còn thắc mắc hay khiếu nại gì về chất lượng công việc đã hoàn thành.

Sau khi hoàn thành công việc thì ông H là người ký vào biên bản nghiệm thu. Tổng giá trị công trình nghiệm thu mà bên A phải thanh toán cho bên B là 68.810.000 đồng. Để hợp thức chứng từ thanh toán bên A đã thanh toán cho bên B tổng là 40.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của ông H. Nhưng vì lý do giữa ông H và ông Q không thống nhất được việc ăn chia số tiền này để sử dụng nên ông Q có trao đổi nội dung này với ông Đ, do đó bên A không tiếp tục trả tiền cho bên B là ông H nữa. Bên A được biết ông Q và anh Đ1 cùng bỏ công sức, cung cấp nguyên liệu sơn, thuê người làm cho công trình sơn nền nhà xưởng của bên A. Vì vậy số tiền còn lại 28.810.000 đồng bên A đã thanh toán cho anh Đ1 bằng hình thức chuyển khoản vào số tiền khoản của anh Đ1 ngày 19/11/2021 số tiền 15.000.000 đồng, số tiền còn lại anh Đ1 nhận bằng tiền mặt. Ông Đ khẳng định đã thanh toán hết cho bên thi công toàn bộ số tiền 68.810.000 đồng do đó ông Đ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Lê Q trình bày: Ông Q quen biết ông Đ qua ông G. Ông H là bạn học của anh trai ông Q. Trước đó ông H và ông Q không có quan hệ làm ăn. Qua ông G, ông Q biết Công ty của ông Đ thuê người sơn nền nhà xưởng.

Ông Q làm cho một Công ty phân phối sơn APEC, khi ông G giới thiệu, ông Q nhận lời sơn xưởng cho Công ty của ông Đ. Nhưng vì ông Q làm việc với tư cách cá nhân, không có công ty riêng và cũng không có cửa hàng, do đó đã nhờ ông H có cửa hàng sơn đứng ra ký hợp đồng để thuận tiện cho việc thanh toán. Ông Q trao đổi với ông Đ để ông H đứng ra là người ký hợp đồng và các thủ tục liên quan đến việc thi công công trình sơn nền nhà xưởng, sau khi quyết toán, lợi nhuận thu được ông Q và ông H sẽ cùng hưởng. Hai bên không nói rõ tỉ lệ được hưởng, không có văn bản mà chỉ thỏa thuận bằng miệng.

Trước ngày ông H và ông Đ ký hợp đồng giao khoán việc sơn nền nhà xưởng, nhóm thợ của ông Q đã đến từ hôm trước để khảo sát và dọn dẹp vệ sinh. Khi ông H ký xong hợp đồng với ông Đ thì sáng sớm hôm sau, ông H cũng mang nhóm thợ của ông H đến. Nhóm thợ của ông Q đến sớm hơn và đã bắt đầu công việc nên ông H rút quân và mang sơn về, không thi công. Toàn bộ sơn dùng để sơn nền là do ông Q cung cấp.

Khi thi công thì anh Đ1 là tổ trưởng tổ thi công do ông Q mời đến. Giá trị mà Công ty phải thanh toán cho việc thi công cho công trình sơn nền nhà xưởng là 68.810.000 đồng. Ông Q được biết sau khi nghiệm thu công trình công ty đã chuyển cho ông H số tiền 40.000.000 đồng nhưng ông H không trả tiền cho ông Q. Ông Q có trao đổi nội dung này với ông Đ do ông H không phải bỏ công sức, sơn, không thi công lại được nhận phần lớn giá trị hợp đồng vì vậy Công ty không chuyển tiền cho ông H nữa mà chuyển số tiền còn lại là 28.810.000 đồng cho anh Đ1.

Nay ông H khởi kiện Công ty của ông Đ đòi lại số tiền 28.810.000 đồng ông Q đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông H. Ông Q xác nhận ông Đ đã thanh toán đủ cho anh Đ1 và ông Q đến nay ông Q không có yêu cầu gì với ông H, ông Đ và anh Đ1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Ngô Bá Đ1 trình bày:

Anh Đ1 quen biết ông Q và không biết ông H. Anh Đ1 không biết việc ông Đ và ông H ký kết hợp đồng nhưng anh Đ1 và ông Q là người trực tiếp thi công công trình sơn nền nhà xưởng cho Công ty của ông Đ. Ông H không tham gia thi công, không cung cấp sơn. Anh Đ1 chưa bao giờ làm thuê cho ông H.

Anh Đ1 xác nhận ông H đã chuyển 30.000.000 đồng vào tài khoản của anh Đ1. Anh Đ1 cũng nhận được số tiền 28.8210.000 đồng do Công ty của ông Đ thanh toán. Tổng cộng anh Đ1 đã nhận số tiền 58.810.000 đồng. Đến nay giữa anh Đ1, ông Q và ông Đ không có vướng mắc gì.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, anh Đ1 không đồng ý vì anh Đ1 cho rằng ông H không bỏ công sức ra thi công, không cung cấp sơn, không thuê người làm nhưng cũng đã được hưởng lại 10.000.000 đồng.

Với nội dung trên, bản án sơ thẩm Căn cứ vào Điều 227, Điều 147, Điều 272, Điều 273 BLTTDS; Điều 274, Điều 385 BLDS 2015; Khoản 10 Điều 3, Điều 138, Điều 139, Điều 141, Điều 144 Luật xây dựng năm 2014; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H về việc: Buộc Công ty T thanh toán số tiền 28.810.000 đồng (Hai mươi tám triệu tám trăm mười ngàn đồng) và lãi suất do chậm thanh toán từ ngày 09/11/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/8/2024, ông Vũ Văn H kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cấu kháng cáo, ông Đ đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Các đương sự không tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong phần tranh luận, ông H đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện và chấp nhận yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Vũ Văn H nộp trong hạn luật định, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tố tụng là kháng cáo hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Về nội dung: Ngày 05/10/2021 giữa Công ty T (bên A) và Nhà phân phối T (bên B) có ký kết Hợp đồng giao khoán. Tại hợp đồng thể hiện nội dung bên B sẽ thi công hạng mục sơn nền nhà xưởng cho bên A và thời hạn thanh toán như sau: Đợt 1: 30% khi nhân công vào thi công và tập kết nguyên vật liệu tại bên A; Đợt 2: 50% số tiền còn lại khi hoàn thiện xong công trình và nghiệm thu bàn giao; Đợt 3: Thanh toán giá trị còn lại trong vòng 1 tháng (30 ngày) kể từ sau ngày thanh toán đợt 2.

Ngày 8/10/2021 bên A và bên B ký biên bản nghiệm thu khối lượng công việc đã hoàn thành. Tổng giá trị mà bên A phải thanh toán cho bên B là 68.810.000 đồng. Ngày 07/10/2021 và ngày 08/10/2021 bên A đã thanh toán cho bên B (người đại diện là ông Vũ Văn H) bằng hình thức chuyển khoản với tổng số tiền là 40.000.000 đồng. Còn số tiền 28.810.000 đồng bên A đã thanh toán cho anh Đ1 (người trực tiếp thi công công trình) bằng hình thức chuyển khoản và tiền mặt.

Ông H cho rằng bên A chưa thanh toán cho bên ông số tiền 28.810.000 đồng do đó ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên A là Công ty T thanh toán số tiền còn lại là 28.810.000 đồng và lãi suất chậm thanh toán theo quy định của pháp luật từ ngày 09/11/2021 đến nay.

Bản án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xử, nguyên đơn là ông Vũ Văn H kháng cáo toàn bộ bản án.

Xét kháng cáo của ông H, Hội đồng xét xử thấy: Tại lời trình bày của các đương sự đều xác nhận ông Vũ Văn H là người ký kết hợp đồng, ký biên bản nghiệm thu với Công ty N không phải là người cung cấp sơn cũng như không phải là người trực tiếp thi công công trình. Người cung cấp sơn, cung cấp dụng cụ thi công và trực tiếp thi công công trình là anh Q và anh Đ1. Ông H cũng chính là người xác nhận sau khi được anh Đ chuyển khoản thanh toán 40.000.000 đồng đã chuyển khoản lại cho anh Đ1 30.000.000 đồng. Anh Q, anh Đ1 không có thắc mắc gì với ông H về khoản tiền 10.000.000 đồng mà ông H đã nhận. Như vậy có thể thấy ông H không bỏ công sức ra thi công, không thuê thợ, không cung cấp nguyên vật liệu. Tại phiên tòa cấp sơ thẩm ông H cũng trình bày giữa ông H và ông Q có thỏa thuận ông H nhận công trình với đơn giá 115.000đồng/m² sơn nền xưởng và ông H nhượng lại cho anh Q, anh Đ1 làm với đơn giá 80.000đồng/m². Do đó có thể thấy ông H đã nhượng lại công việc trên cho anh Q vì vậy việc Công ty T thanh toán cho ông H 40.000.000 đồng và anh Đ1 28.810.000 đồng là đã thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán. Còn về việc ông H, anh Q, anh Đ1 có tranh chấp về việc phân chia lợi nhuận thì các đương sự có thể khởi kiện vụ án dân sự khác khi tuân thủ điều kiện khởi kiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Từ phân tích trên có thể thấy ông H kháng cáo toàn bộ bản án nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới nên kháng cáo của ông H không có căn cứ chấp nhận do đó cần bác toàn bộ kháng cáo của ông H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

[4]. Về án phí: Ông H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng do ông H là người cao tuổi nên hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông H.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Vũ Văn H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn.
  2. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
  3. Về án phí phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông Vũ Văn H.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND thành phố Từ Sơn;
  • - Chi cục THADS thành phố Từ Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2024/DSPT ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng xây dựng

  • Số bản án: 01/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng xây dựng giữa Nguyên đơn: Ông Vũ Văn Hỹ; Bị đơn: Công ty thiết bị điện áp máy biến áp Việt Nam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger