|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/DS-PT
Ngày: 10 - 01 – 2024
V/v: Tranh chấp chia tài sản chung
là quyền sử dụng đất; Tranh chấp
chia di sản thừa kế theo pháp luật;
Chia di sản thừa kế theo di chúc.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hàng Lâm Viên
Các Thẩm phán:Bà Ngô Thị Trang
Bà Phạm Thị Anh Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Vân Nha – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 82/2023/TLPT-DS ngày 07 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất; Tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật, chia di sản thừa kế theo di chúc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 83/2023/QĐ-PT ngày 26/12/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1969; (Có mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Thị C, sinh năm 1957; (Có mặt).
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Đắc K1, sinh năm 1971; (Có mặt).
- Ông Trần Đắc T, sinh năm 1954; (Có mặt).
- Ông Trần Đắc L1, sinh năm 1960; (Vắng mặt).
- Bà Trần Thị L2, sinh năm 1963; (Có mặt).
- Ông Trần Đắc D, sinh năm 1965; (Có mặt).
- Bà Trần Thị P, sinh năm 1966; (Có mặt).
- Ông Trần Đắc S, sinh năm 1972; (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông K1: Ông Trần Đắc D, sinh năm 1965; (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông L1, bà L2: Ông Trần Đắc T, sinh năm 1954. (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Cùng địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Cùng địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của ông S: Ông Trần Đắc D, sinh năm 1965; (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đắc D, sinh năm 1965; (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Đắc T, sinh năm 1954; (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Hứa Thanh K – Luật sư Văn phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh N. (Có mặt).
- Người kháng cáo: Ông bà Trần Thị C, Trần Đắc T, Trần Đắc L1, Trần Thị L2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản khai và quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo ủy quyên của nguyên đơn ông Trần Đắc D trình bày:
Các thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc do gia đình bà Trần Thị L nhận khoán năm 1988, đến ngày 30-8-1994 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất số 01, 02, 78, 79, 80 tờ bản đồ địa chính số 02 thôn K, xã T với diện tích là 6.232m².
Khi nhận khoán nhà nước đo đất kéo dây và chỉ ranh giới thửa đất cho gia đình bà, trong quá trình sử dụng gia đình bà có khai hoang thêm phần cây bụi rậm ngăn cách giữa thửa đất của gia đình bà với các thửa đất khác nên diện tích đo đạc hiện nay là 10.616m². Từ trước đến nay ranh giới thửa đất của bà không xâm phạm đến các thửa đất khác và không có ai tranh chấp. Phần khai hoang thêm này gia đình bà khai hoang từ năm 1994 đến năm 1996, sử dụng ổn định đến nay. Theo đo đạc hiện nay là thửa đất số 167, tờ bản đồ số 19 thôn K, xã T có diện tích 10.616m², hiện trạng đất trống.
Thời điểm nhận khoán đất gia đình bà có 06 nhân khẩu gồm cha bà ông Trần Đắc T1, sinh năm: 1932 (chết năm 2000), mẹ bà Trần Thị T2, sinh năm 1934 (chết năm 2021), bà Trần Thị C, sinh năm 1957, bà Trần Thị L, sinh năm 1969, ông Trần Đắc K1, sinh năm 1971 và ông Trần Đắc S, sinh năm 1972. Giấy chứng tử cha Trần Đắc T1 ghi ngày chết là ngày 20-10-2004, thực tế cha chết năm 2000 nhưng đăng ký khai tử trễ, năm 2004 mới đăng ký khai tử. Khi còn sống cha mẹ có làm di chúc ngày 28-5-1998 được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận ngày 30-6-1998 có nội dung giao toàn bộ phần di sản của cha mẹ đối với đất nhận khoán nêu trên để lại cho em trai Trần Đắc K1 và vợ là Nguyễn Thị T3, ngoài ra cha mẹ không làm thêm di chúc nào khác về phần đất này.
Cha mẹ ông khi còn sống có 09 người con gồm có Trần Đắc T, sinh năm 1953; Trần Thị C, sinh năm 1957; Trần Đắc L1, sinh năm 1960; Trần Thị L2, sinh năm: 1963, Trần Đắc D, sinh năm 1965; Trần Thị P, sinh năm 1966; Trần Thị L, sinh năm 1969; Trần Đắc K1, sinh năm 1971; Trần Đắc S, sinh năm 1972. Ngoài ra cha mẹ ông không có con riêng hay con nuôi nào khác.
Đối với phần đất nhận khoán hiện nay đo đạc là 10.616m² thì chia đều cho 05 thành viên trong hộ, phần bà L xin nhận đất, nhận vị trí nào cũng được. Các anh chị em thống nhất chừa đường đi chung theo ranh giới thửa đất như trích lục ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Đối với phần diện tích đất còn lại chia đều thành 05 phần. Phần của cha Trần Đắc T1 chết năm 2000 sẽ được giao lại cho các thành viên còn lại trong hộ.
Đối với di chúc cha mẹ tặng cho ông K1 thì yêu cầu Tòa án công nhận công nhận di chúc này. Khi lập di chúc cho ông K1 thì cha mẹ có gọi 07 anh chị em đến ký chứng kiến gồm: C, L1, L2, L, K1, D, Phận. Di chúc này đã được chính quyền địa phương xác nhận và các anh chị em đều biết nên đề nghị Tòa án công nhận di chúc này.
Bà L thống nhất đối với biên bản định giá, thống nhất giá đất là 130.000 đồng/m² và trích lục bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai huyện N. Chi phí đo đạc và thẩm định, định giá chia đều cho các anh chị em nhận đất, ông K1 nhận nhiều hơn nên chịu nhiều hơn.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ông Trần Đắc T trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp gia đình bà C nhận khoán năm 1988, đến ngày 30-8-1994 được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 01, 02, 78, 79, 80 tờ bản đồ địa chính số 02 thôn K, xã T với diện tích là 6.232m². Khi nhận khoán nhà nước đo đất kéo dây và chỉ ranh giới thửa đất cho gia đình bà, trong quá trình sử dụng gia đình bà có khai hoang thêm phần cây bụi rậm ngăn cách giữa thửa đất của gia đình bà với các thửa đất khác nên diện tích đo đạc hiện nay là 10.616m². Từ trước đến nay ranh giới thửa đất của bà không xâm phạm đến các thửa đất khác và không có ai tranh chấp. Gia đình bà sử dụng ổn định từ đó cho đến nay, theo đo đạc hiện nay là thửa đất số 167, tờ bản đồ số 19 thôn K, xã T có diện tích 10.616m².
Thời điểm nhận khoán đất gia đình bà có 06 nhân khẩu gồm cha bà ông Trần Đắc T1, sinh năm: 1932 (chết năm 2000), mẹ bà Trần Thị T2, sinh năm 1934 (chết năm 2021), bà Trần Thị C, sinh năm 1957, bà Trần Thị L, sinh năm1969, ông Trần Đắc K1, sinh năm 1971 và ông Trần Đắc S, sinh năm 1972. Giấy chứng tử cha Trần Đắc T1 ghi ngày chết là ngày 20-10-2004, thực tế cha chết năm 2000 nhưng đăng ký khai tử trễ, năm 2004 mới đăng ký khai tử. Khi còn sống cha mẹ có làm di chúc ngày 28-5-1998 được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận ngày 30-6-1998 có nội dung giao toàn bộ phần di sản của cha mẹ đối với đất nhận khoán nêu trên để lại cho em trai Trần Đắc K1 và vợ là Nguyễn Thị T3, ngoài ra cha mẹ không làm thêm di chúc nào khác về phần đất này.
Cha mẹ bà khi còn sống có 09 người con gồm có Trần Đắc T, sinh năm 1953; Trần Thị C, sinh năm 1957; Trần Đắc L1, sinh năm 1960; Trần Thị L2, sinh năm: 1963, Trần Đắc D, sinh năm 1965; Trần Thị P, sinh năm 1966; Trần Thị L, sinh năm 1969; Trần Đắc K1, sinh năm 1971; Trần Đắc S, sinh năm 1972. Ngoài ra cha mẹ ông không có con riêng hay con nuôi nào khác.
Đối với phần đất nhận khoán hiện nay đo đạc là 10.616m² thì chia đều cho 06 thành viên trong hộ, phần bà C xin nhận đất, nhận vị trí nào cũng được. Các anh chị em thống nhất chừa đường đi chung theo ranh giới thửa đất như trích lục ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Văn phòng Đăng ký đât đai huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Đối với phần diện tích đất còn lại chia đều thành 06 phần, phần cha mẹ chết để lại chia đều cho 09 anh chị em trong gia đình. Phần bà C xin nhận đất, bà xin nhận thửa đất số 317, bà C đồng ý tặng cho phần bà C được hưởng của cha mẹ cho ông T.
Bà C thống nhất đối với biên bản định giá, thống nhất giá đất là 130.000đ/m² và trích lục bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai huyện N. Chi phí đo đạc và T4 định, định giá chia đều cho các anh chị em nhận đất. Bị đơn bà Trần Thị C thống nhất ý kiến ông T, bà đồng ý tặng cho phần thừa kế bà được nhận của cha mẹ cho ông T. Đối với di chúc cha mẹ lập cho tài sản cho vợ chồng ông K1 bà có biết và có ký vào di chúc, di chúc này bà đề nghị Tòa án xử theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Đắc K1, ông Trần Đắc S thống nhất ý kiến nguyên đơn.
Các ông đồng ý chia tài sản chung đối với phần đất nhận khoán thành 05 phần bằng nhau, phần các ông xin nhận đất.
Đối với đi chúc cha mẹ lập năm 1998 là hợp pháp, ông K1 đồng ý nhận phần di sản cha mẹ để lại cho vợ chồng ông. Ông K1, ông S thống nhất đối với biên bản định giá, thống nhất giá đất là 130.000 đồng/m² và trích lục bản đồ địa chính của Văn phòng đăng ký đất đai huyện N. Chi phí đo đạc và thẩm định, định giá chia đều cho các anh chị em nhận đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T3 tại biên bản ghi lời khai ngày 07/6/2023:
Thống nhất ý kiến ông Trần Đắc K1 và có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các ông Trần Đắc D, bà Trần Thị P, bà Trần Thị L2, ông Trần Đắc L1 trình bày:
Về con chung và nguồn gốc đất tranh chấp đúng như nguyên đơn và bị đơn trình bày. Cha các ông bà chết năm 2000 nhưng đăng ký khai tử trễ năm 2004, mẹ chết năm 2021. Thời điểm nhận khoán đất các ông bà không có trong hộ khầu và đã tách ra ở riêng, không có liên quan gì đến phần đất nhận khoán này nên các ông bà không có yêu cầu gì về chia phần đất nhận khoán này.
Đối với di chúc cha mẹ lập năm 1998, ông D, bà P và bà L2 xác nhận có biết và ký vào di chúc với tư cách người làm chứng, các ông bà đề nghị Tòa án chia theo di chúc này. Ông Trần Đắc L1 không đồng ý chia theo di chúc vì di chúc không phải chữ ký của ông. Trường hợp Tòa án chia thừa kế phần tài sản ông T1 và bà T2 chết để lại đối với phần đất nhận khoán này thì ông L1 và bà L2 đồng ý tặng cho phần của mình cho ông T; Ông Trần Đắc D và bà Trần Thị P đồng ý tặng cho phần mình được nhận cho ông Trần Đắc K1. Bà Trần Thị P đồng ý tặng cho phần của mình cho ông D, có yêu cầu xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị C, Luật sư Hứa Thanh K trình bày:
Ông thống nhất phần trình bày của bà C, ông trình bày bổ sung về di chúc của cụ T1 và cụ T2 lập năm 1998: Di chúc này chữ ký của cụ T1 không đúng và đề nghị Tòa án giám định chữ ký của cụ T1 trong di chúc. Ông không có chứng cứ gì để chứng minh chữ ký trong di chúc không phải của ông T1.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 5, 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 212, 219 Bộ luật dân sự 2014; Các Điều 636, 650, 651, 652, 653, 655, 656, 660 Bọ luật dân sự 1995; Khoản 5 Điều 113 Luật Đất đai 2003; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc chia tài sản thuộc sở hữu chung và chia thừa kế.
-
2.1. Bà Trần Thị L được quyền sử dụng thửa đất 314, tờ bản đồ địa chính số 19 thôn K, xã T có diện tích 2.057m² theo trích lục bản đồ địa chính ngày 22/9/2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai huyện N.
Thửa đất có vị trí tứ cận:
- Phía Đông giáp thửa 41;
- Phía Tây giáp đường đi chung, thửa số 315 và 166;
- Phía Nam giáp phần còn lại của Suối lở;
- Phía Bắc giáp mương.
-
2.2 Ông Trần Đắc S được quyền sử dụng thửa đất số 316, tờ bản đồ địa chính số 19 thôn K, xã T có diện tích 2.058 m² theo như trích lục bản đồ địa chính ngày 22/9/2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai huyện N.
Thửa đất có vị trí tứ cận:
- Phía Đông giáp thửa đất số 315;
- Phía Tây giáp đường đi chung và thửa 30;
- Phía Nam giáp thửa số 317;
- Phía Bắc giáp đường đi chung.
-
2.3 Ông Trần Đắc K1 được quyền sử dụng thửa đất số 315, tờ bản đồ địa chính số 19 thôn K, xã T có diện tích 2.058m² theo như trích lục bản đồ địa chính ngày 22/9/2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai huyện N.
Thửa đất có vị trí tứ cận:
- Phía Đông giáp thửa đất số 41;
- Phía Tây giáp thửa số 316;
- Phía Nam giáp thửa số 52;
- Phía Bắc giáp thửa số 314 và đường đi chung.
-
2.4 Ông Trần Đắc K1 và bà Nguyễn Thị T3 được quyền sử dụng thửa đất số 318, tờ bản đồ địa chính số 19 thôn K, xã T có diện tích 2.058m² theo như trích lục bản đồ địa chính ngày 22/9/2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai huyện N.
Thửa đất có vị trí tứ cận:
- Phía Đông giáp thửa đất số 52;
- Phía Tây giáp thửa số 50 và đường đi;
- Phía Nam giáp thửa số 65;
- Phía Bắc giáp thửa số 317.
-
2.5 Bà Trần Thị C được quyền sử dụng thửa đất số 317, tờ bản đồ địa chính số 19 thôn K, xã T có diện tích 2.058m² theo như trích lục bản đồ địa chính ngày 22/9/2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Ninh
Thửa đất có vị trí tử cận:
- Phía Đông giáp thửa đất số 52;
- Phía Tây giáp thửa số 50 và đường đi;
- Phía Nam giáp thửa số 318;
- Phía Bắc giáp thửa số 316.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên chi phí tố tụng, án phí, quyền thi hành án, quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 27 tháng 9 năm 2023, các ông, bà: Trần Thị C, Trần Đắc T, Trần Đắc L1, Trần Thị L2 kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện N. Những vấn đề cụ thể người kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện N, theo hướng giao thửa đất số 318 cho ông Trần Đắc T được hưởng theo di chúc ngày 20-10-2016 do bà Trần Thị T2 lập.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Hội đồng xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thực hiện đúng thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa.
- Về nội dung:
Phạm vi khởi kiện của nguyên đơn cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là 6.232m² đất thuộc các thửa đất số 01, 02, 78, 79, 80 cùng tờ bản đồ số 02 thôn K, xã T, loại đất nông nghiệp cấp cho hộ gia đình cụ Trần Đắc T1. Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết luôn cả diện tích đất khai hoang chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chưa làm rõ do những thành viên nào khai hoang, tại phiên tòa các đương sự không thống nhất số thành viên khai hoang. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Nguyễn Thị T3 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời bỏ sót yêu cầu độc lập của ông Trần Đắc K1.
Từ những vi phạm nghiêm trọng về tố tụng và thu thập, đánh giá chứng cứ, giải quyết yêu cầu của đương sự không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không khắc phục được nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thủ tục tố tụng
[1.1] Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập giữ nguyên yêu cầu độc lập. Các đương sự không thỏa thuận giải quyết vụ án. Những người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, phạm vi kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
[1.2] Các đương sự có mặt tại phiên tòa và thông qua sự có mặt của những người đại diện hợp pháp.
[2] Các đương sự tranh luận
[2.1] Nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận di chúc chung và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2.2] Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng với bị đơn yêu cầu Tòa án không công nhận di chúc.
[2.3] Nguyên đơn cho rằng đất khai hoang là do ông T1, ông K1, ông S khai hoang. Bị đơn cho rằng đất khai hoang là do ông T1, bà C khai hoang.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo
[3.1] Đơn khởi kiện ngày 10/11/2022 (bút lục số 17), bà Trần Thị L khởi kiện bà Trần Thị C gồm các yêu cầu:
- Chia tài sản là quyền sử dụng đất thuộc sở hữu chung của 06 thành viên gồm: Vợ chồng cụ Trần Đắc T1, cụ Trần Thị T2 và 04 người con của cụ T1, cụ T2 là: Bà Trần Thị C, bà Trần Thị L, ông Trần Đắc K1, ông Trần Đắc S;
- Chia di sản thừa kế của vợ chồng cụ T1, cụ T2 theo quy định của pháp luật đối với đất nhận khoán; Phạm vi khởi kiện là các thửa đất số 01, 02, 78, 79, 80 cùng tờ bản đồ số 02, K - T - N - Ninh Thuận, đã được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/8/1994. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tổng diện tích 05 thửa đất nêu trên là 6.232m², loại đất màu. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu khởi kiện, phạm vi diện tích đất tranh chấp 6.232m² tại Thông báo thụ lý vụ án số 164/2022/TB-TLVA ngày 14/11/2022 (bút lục số 111).
- Ngày 14/02/2023, ông Trần Đắc K1 có đơn yêu cầu độc lập, yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm công nhận tờ chúc ngôn do vợ chồng cụ Trần Đắc T1, cụ Trần Thị T2 lập ngày 28/5/1998, nội dung di chúc cho vợ chồng ông Trần Đắc K1, bà Nguyễn Thị T3 được hưởng phần tài sản của vợ chồng cụ T1, cụ T2 trong diện tích thuộc sở hữu chung đối với 05 thửa đất 01, 02, 78, 79, 80 tổng diện tích là 6.132m² (bút lục số 38). Ông Trần Đắc K1 đã nộp tiền tạm ứng án phí, được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu độc lập tại Thông báo thụ lý vụ án số 08/2023/TB-TLVA ngày 22/02/2023 (bút lục số 41).
- Như vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án phải được xác định là “Chia tài sản là quyền sử dụng đất thuộc sở hữu chung; Chia di sản thừa kế theo pháp luật; Chia di sản thừa kế theo di chúc”; Phạm vi khởi kiện, tranh chấp là 6.232m² đất. Thế nhưng, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm chỉ tuyên, giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc chia tài sản thuộc sở hữu chung và chia thừa kế; Không giải quyết yêu cầu độc lập của ông Trần Đắc K1, không đưa bà Nguyễn Thị T3 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (người được hưởng di sản theo di chúc) trong các phiên hòa giải, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng như trong bản án.
[3.2] Đơn trình bày ý kiến của nguyên đơn bà Trần Thị L (bút lục số 12), bà L khẳng định diện tích đất được nhà nước giao khoán cho hộ gia đình là 6.232m² gồm 06 nhân khẩu: Cụ Trần Đắc T1, cụ Trần Thị T2, bà Trần Thị C, bà Trần Thị L, ông Trần Đắc K1, ông Trần Đắc S. Biên bản lấy lời khai của bà Trần Thị L (bút lục số 22), bà L xác định tranh chấp các thửa đất số: 01, 02, 78, 79, 80; Diện tích khai hoang thêm hơn 3.000m² do cụ T1, ông K1, ông S khai hoang chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà L sẽ xem xét và cung cấp cho Tòa án sau. Biên bản thẩm định tại chỗ (bút lục số 69) xác định diện tích đất của các thửa đất đang tranh chấp bao gồm cả phần diện tích đất khai hoang thuộc thửa số 167, diện tích 10.616m². Tại biên bản hòa giải ngày 04/7/2023 (bút lục số 91), nguyên đơn bà Trần Thị L yêu cầu chia tài sản chung diện tích 10.616m² cho 06 thành viên, riêng phần cha, mẹ di chúc cho ông K1 thì bà L đồng ý. Bị đơn bà Trần Thị C cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Đắc T, Trần Đắc L1, Trần Thị L2 thì đồng ý chia tài sản chung cho 06 người, riêng phần đất cha, mẹ để lại di chúc cho ông K1 thì họ không đồng ý. Như vậy, bị đơn và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa thống nhất diện tích do nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện và nội dung thay đổi yêu cầu khởi kiện vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết diện tích khai hoang là vượt quá phạm vi khởi kiện của nguyên đơn cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; Chưa làm rõ diện tích đất khai hoang do những ai khai hoang.
[3.3] Diện tích đất nhận khoán 6.232m² là loại đất màu (đất nông nghiệp) nên Tòa án cấp sơ thẩm vận dụng quy định tại Điều 76 Luật Đất đai năm 1993, Bộ luật dân sự năm 1995, đánh giá chứng cứ phần đất nông nghiệp cấp cho hộ gia đình không thuộc đối tượng để lại di sản thừa kế là đúng. Tuy nhiên, tại văn bản số 237/UBND-TNMT ngày 11/01/2024 của Ủy ban nhân dân huyện N cho biết diện tích đất khai hoang thêm cho đến thời điểm hiện nay chưa đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho hộ gia đình (do vượt hạn mức, loại đất trồng cây hàng năm khác); Mặt khác Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ những thành viên nào khai hoang (theo mục 3.2) nhưng lại gộp chung đất khai hoang vào đất nhận khoán để phân chia cho 06 thành viên là sai lầm gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
[3.4] Bản án sơ thẩm trừ diện tích đường đi chung cũng chưa có căn cứ vì trong phạm vi đường đi chung vẫn có phần đất khai hoang; Bên cạnh đó, trong phần quyết định của bản án sơ thẩm cũng không tuyên quyền về đường đi chung; một số thửa đất đã có lối đi riêng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm trừ đất làm lối đi chung là không phù hợp. Cần xác định những thửa đất nào không có lối đi thì trừ vào chính diện tích của những thửa đất đó để họ làm lối đi chung. Bản án sơ thẩm tính án phí sai, không có căn cứ; Không tuyên phần tạm ứng án phí đối với yêu cầu độc lập của ông Trần Đắc K1.
[4] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của những người kháng cáo; Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên; Hủy toàn bộ bản án vì Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như: Bỏ sót người tham gia tố tụng; bỏ sót yêu cầu của đương sự; giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu dẫn đến phân chia tài sản dựa trên các quan hệ tranh chấp không chính xác, không đảm bảo quyền lợi của đương sự mà Tòa án cấp phúc thẩm không khắc phục được. Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết lại vụ án cần xác định đúng và đầy đủ quan hệ pháp luật tranh chấp; đưa đầy đủ người tham gia tố tụng; xác định diện tích nhận khoán và diện tích khai hoang cũng như những thành viên khai hoang đất, nếu vợ chồng cụ T2, cụ T1 có khai hoang thì phần diện tích này cần phải xem xét, đánh giá chứng cứ là vợ chồng cụ T2, cụ T1 đã định đoạt trong di chúc hay chưa, nếu chưa thì phải được chia theo quy định của pháp luật; Những thửa đất được phân chia không có lối đi thì trích một phần diện tích của những thửa đất đó để làm lối đi chung trong đó cần xem xét ý kiến của những người được chia tài sản chung, nhận thừa kế tặng cho quyền sử dụng đất để hạn chế phân chia đất thành nhiều thửa nhỏ là không cần thiết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 308 khoản 3 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Tuyên xử:
- Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 30/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện N. Giao toàn bộ hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện N giải quyết lại theo thủ tục chung.
- Án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được Tòa án nhân dân huyện N giải quyết lại. Các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Án xử phúc thẩm công khai có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/01/2024./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hàng Lâm Viên |
Bản án số 01/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất; tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật; chia di sản thừa kế theo di chúc.
- Số bản án: 01/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất; Tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật; Chia di sản thừa kế theo di chúc.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản chung là quyền sử dụng đất; Tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật, chia di sản thừa kế theo di chúc
