|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Bản án số: 01/2024/DS-PT Ngày: 10/01/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung, bà Thái Thị Hồng Vân- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Viết Ngọc – Thẩm tra viên, Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10/01/2024, tại Trụ sở Tòa án Nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 73/2023/TLPT-DS ngày 11/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; do Bản án Dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 17/5/2023 của Tòa án Nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 205/2023/QĐ-PT ngày 27/12/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Chu Thị Đ, sinh năm 1949; địa chỉ: Số nhà A, đường V, K, phường B, Thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1963 và ông Chu Văn D, sinh năm 1962; cùngđịa chỉ: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
* Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị T và ông Chu Văn D
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Chu Thị Đ trình bày:
Bà sinh ra và lớn lên tại xóm C, xã D, D, Nghệ An. Sau đó bà lập gia đình và hiện nay đang sinh sống tại thành phố V. Năm 2010, Ban chấp hành Hội liên hiệp Phụ nữ xã D đang có nhu cầu kêu gọi mọi người góp vốn để cho vay xóa đói giảm nghèo. Thời điểm đó, bà Trần Thị T là thành viên của Ban, nên mọi người ai cho nhu cầu góp vốn thì đều gửi cho bà T.
Cuối năm 2016, bà T vận động bà gửi cho bà T số tiền là 200.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận lãi suất 10%/năm, hai bên đều ghi giấy vay nợ nhưng sau đó bà T đã đều xé hết. Cuối năm 2019, bà T gọi cho bà với nội dung “Hiện giờ chưa có tiền, lúc nào có tiền cháu gọi bà về lấy”. Đến khoảng tháng 02 tháng 3 năm 2020 bà T đã trả cho bà được 155.000.000 đồng tiền gốc.
Ngày 10/11/2021, ông Chu Văn D (chồng bà T) và bà T gọi bà về và đã trả hết số tiền gốc còn lại là 45.000.000 đồng. Còn tiền lãi từ lúc vay đến năm 2021 thì bà T chưa hề trả cho bà được đồng nào. Nên cùng ngày 10/11/2021, ông D đã viết giấy hẹn trả nợ, cụ thể hẹn đến 30/5/2022 dương lịch sẽ trả tiền lãi cho bà với số tiền là 66.200.000 đồng. Đến hẹn trả nợ, bà đã nhiều lần yêu cầu bà T trả nợ cho bà nhưng bà T lại đe dọa hành hung, đuổi bà ra khỏi nhà.
Vì vậy, bà đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị T và ông Chu Văn D phải trả cho bà số tiền còn nợ lãi là 66.200.000 đồng. Tại phiên tòa, bà thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, theo đó bà chỉ yêu cầu bà T và ông D phải trả cho bà số tiền nợ lãi là 60.000.000 đồng. Bà trình bày lý do thay đổi là vì hai bên thỏa thuận lãi suất 10%/năm, bà chỉ tính lãi trong 03 năm là 2017, 2018 và 2019, còn các năm 2020 và 2021 do dịch bệnh Covid-19 khó khăn nên bà không tính lãi.
Tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là bà Trần Thị T trình bày:
Từ năm 2005 đến 2019 bà làm Chi h phụ nữ xóm 3 cũ nay là xóm B mới,Trong thời gian đó giữa bà và bà Đ là chỗ quen biết nên tháng 1 năm 2017 bà Đ có gửi bà số tiền là 200.000.000 đồng. Do bà Đ không có hộ khẩu tại xã D nên số tiền đó bà không dùng để nhập vào quỹ tiết kiệm phụ nữ của xóm mà dùng để phát triển kinh tế riêng của gia đình bà. Khi bà Đ cho bà vay với số tiền 200.000.000 đồng, cả hai không viết giấy vay mượn gì. Đến ngày 30/11/2017 (âm lịch) bà trả cho bà Đ số tiền cả gốc và lãi khoảng 220.000.000 đồng (bà không nhớ chính xác). Bà Đ đã nhận đầy đủ cả gốc và lãi đồng thời cho lại bà 300.000 đồng và 01 gói kẹo.
Đến tháng 01/2018 (âm lịch), bà Đ tiếp tục cho bà vay với số tiền là 220.000.000 đồng. Ngày 30/11/2018, bà đã trả cả gốc và lãi cho bà Đ số tiền cụ thể như thế nào bà không nhớ. Sau đó bà Đ có cho lại bà 500.000 đồng và 01 chai ruốc chua.
Đến tháng 01/2019 (âm lịch), bà Đ tiếp tục cho bà vay với số tiền là 200.000.000 đồng. Hai bên không lập thành văn bản và thỏa thuận bằng miệng lãi suất 10%/năm. Nhưng năm 2019 do dịch bệnh Covid-19, việc chăn nuôi không thuận lợi nên bà không thể trả hết số tiền một lúc. Bà trả thành nhiều lần, cụ thể lần 1 là 80.000.000 đồng, lần 2 là 40.000.000 đồng, lần 3 là 30.000.000 đồng, lần 4 là 20.000.000 đồng, lần 5 là 5.000.000 đồng; những lần trả trên hai bên cũng không lập thành văn bản và bà cũng không nhờ rõ thời gian trả, như vậy bà còn nợ bà T số tiền gốc và lãi là 45.000.000 đồng.
Đến năm 2020 và năm 2021 bà Đ hỏi bà nhưng bà cũng không có tiền trả và xin khất. Đến ngày 10/11/2021, chồng bà là ông Chu Văn D đã đi vay chú Chu Văn H với số tiền là 45.000.000 đồng để trả cho bà Đ hết số tiền nợ đã vay. Như vậy tổng số tiền bà đã trả cho bà Đ là 220.000.000 đồng, số tiền này là cả tiền gốc và lãi.
Nay bà Đ yêu cầu bà và ông D phải trả số tiền nợ lãi là 60.000.000 đồng, bà không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Đ vì cho rằng bà đã trả cho bà Đ toàn bộ số nợ cả gốc và lãi như đã trình bày ở trên.
- Tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn là ông Chu Văn D trình bày:
Ông là chồng của bà Trần Thị T. Theo như bà T trình bày thì từ năm 2017 đến năm 2019 bà T có vay của bà Đ số tiền như thế nào thì ông không biết. Nhưng đến năm 2021 thì bà Đ có đến nhà ông chửi bới và yêu cầu bà T phải trả cho bà Đ số tiền còn nợ là 45.000.000 đồng. Lúc đó ông mới biết được sự việc trên nên mới hỏi bà T nội dung cụ thể. Bà T nói rằng bà đang còn nợ bà Đ số tiền 45.000.000 đồng. Vì hạnh phúc gia đình nên ông đã đi vay số tiền là 45.000.000 đồng để trả cho bà Đ hết số tiền nợ gốc và lãi. Đồng thời bà Đ có yêu cầu ông viết giấy xin trả tiền vay với nội dung như bà Đ đã nộp cho Tòa án, cụ thể: “Đến ngày 10/11 đã trả 200.000.000 đồng tiền gốc, còn tiền lãi là 66.200.000 đồng. Xin hẹn đến ngày 30/5 năm 2022 Dương lịch tôi sẽ trả hết số tiền còn lại”. Nội dung giấy xin trả tiền trên ông cho rằng thực chất bà T còn nợ bà Đ số tiền cụ thể bao nhiêu thì ông không biết, nhưng do bị bà Đ đe dọa nên bà Đ đọc như thế nào thì ông viết như thế đó. Lúc ông viết giấy thì bà T không ở nhà, nhưng ông là người ký và ghi rõ họ tên của cả ông và bà T.
Nay bà Đ yêu cầu ông và bà T phải trả số tiền nợ lãi là 60.000.000 đồng, ông không đồng ý.
Bản án Dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án Nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ các Điều 166, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Chu Văn D và và Trần Thị T phải trả cho bà Chu Thị Đ toàn bộ số tiền nợ lãi 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 29/5/2023, bị đơn bà Trần Thị T và ông Chu Văn D làm đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2023/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2023 của Tòa án Nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An với nội dung: trong quá trình quen biết bà Đ, chỉ bà T và bà Đ đạt giao dịch với nhau, ông D không biết gì; bà T đã trả đủ số tiền cho bà Đ cả gốc và lãi. Tuy nhiên do, bà T đi vào N chơi với con, ông D ở nhà bị bà Đ cưỡng ép bắt ghi và ký giấy nợ chứ ông D không biết, không quen biết gì bà Đ trước đó cũng như không có nợ nần gì bà Đ. Trong quá trình xét xử bà Đ thừa nhận vào năm 2017, vợ chồng ông bà đã trả 20.000.000 đồng mà Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu vẫn tuyên ông bà phải trả cho bà Đ số tiền 60.000.000 đồng. Do đó, ông, bà không đồng ý trả lại cho bà Đ số tiền 60.000.000 đồng như Tòa tuyên ngày 17.5.2023; đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Trần Thị T và ông Chu Văn D giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm, Thẩm phán được phân công đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa.
- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 75, Điều 76, Điều 85, Điều 86 và Điều 294 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự được bảo đảm.
- Về thủ tục kháng cáo: Bà Trần Thị T và ông Chu Văn D kháng cáo trong thời hạn luật định, nên được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết là đúng pháp luật.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị T và ông Chu Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Về án phí: Bị đơn bà Trần Thị T và ông Chu Văn D thuộc trường hợp được miễn án phí nhưng Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu vẫn thông báo cho bị đơn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo bà Đ cuối năm 2016 bà có cho bà T vay số tiền gốc 200.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm. Đến ngày 10/11/2021, bà T đã trả đủ tiền gốc, còn lại 66.200.000 đồng tiền lãi chưa trả. Chứng cứ là giấy gốc do ông D (chồng bà T) viết khi đã trả đủ tiền gốc và bà chỉ khởi kiện yêu cầu bà T và ông D trả tiền lãi là 60.000.000 đồng.
[2] Bà T cho rằng kể từ đầu năm 2017, bà đã vay bà Đ ba lần tiền. Cụ thể: tháng 01/2017 vay 200.000.000 đồng, đã trả đủ cả gốc và lãi là 220.000.000 đồng; tháng 01/2018 vay 220.000.000 đồng, đã trả đủ gốc và lãi, không nhớ cả gốc và lãi là bao nhiêu; tháng 1/2019 vay 200.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm, đã trả đủ gốc và lãi là 220.000.000 đồng, nhưng không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh, lần trả cuối cùng là ngày 10/11/2021 với số tiền 45.000.000 đồng do ông D giao cho bà Đ. Quá trình giải quyết vụ án ông D thừa nhận chứng cứ mà bà Đ cung cấp để khởi kiện là do ông viết vào ngày 10/11/2021 tại nhà ông khi ông trực tiếp trả cho bà Đ số tiền 45.000.000 đồng.
[3] Ông Chu Văn D cho rằng ông không biết việc vay mượn giữa bà T và bà Đ như thế nào là đúng; nhưng đến ngày 10/11/2021 khi ông trả cho bà Đ 45.000.000 đồng thì ông D biết bà T vay của bà Đ số tiền là 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng) vào năm 2017 và đã trả tiền gốc, còn nợ 66.200.000 đồng tiền lãi nên ông mới viết “Giấy xin trả tiền vay” có nội dung “Năm 2017, bà Trần Thị T có vay của bà Chu Thị Đ 200.000.000 đồng. Tính từ ngày 1/1/2017 đến 30/12/2019 tiền lãi và tiền gốc 266.200.000 đồng. Đến ngày 10/11 đã trả 200.000.000 đồng tiền gốc, còn tiền lãi là 66.200.000 đồng. Xin hẹn đến ngày 30/5 năm 2022 Dương lịch tôi sẽ trả hết số tiền còn lại”. Điều đó thể hiện ông Chu Văn D là người viết giấy thừa nhận bà T có vay tiền, có hứa hẹn ngày trả nợ, có ký và ghi họ tên đầy đủ. Bà T và ông D đều thừa nhận bà T đã sử dụng số tiền vay của bà Đ vào mục đích phát triển kinh tế gia đình; ông D và bà T cũng không có tài liệu chứng minh ông bà đã trả tiền lãi cho bà Đ.
[4] Ông D, bà T cho rằng ông D bị bà Đ cưỡng ép bắt ghi và ký giấy nợ nhưng ông D, bà T không cung cấp chứng cứ chứng minh ông D bị bà Đ đe dọa, ép buộc. Tại thời điểm ông D viết giấy nhận nợ, bà Đ là phụ nữ, đã trên 70 tuổi, ông D là nam giới kém bà Đ 13 tuổi, lại trong bối cảnh tại nhà ông D và bà Đ chỉ có một mình, do đó việc ông D, bà T cho rằng ông D bị bà Đ cưỡng ép viết giấy nhận nợ là không có căn cứ.
[5] Như vậy, có cơ sở xác định, tại thời điểm ngày 10/11/2021, bà T, ông D còn nợ bà Đ số tiền lãi 66.200.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Đ chỉ yêu cầu ông D, bà T trả cho bà Đ 60.000.000 đồng tiền lãi. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông D, bà T phải trả cho bà Đ 60.000.000 đồng tiền lãi là có căn cứ, không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông D, bà T.
[6] Về án phí: Bị đơn bà Trần Thị T và ông Chu Văn D kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bà Trần Thị T và ông Chu Văn D là người cao tuổi nên được miễn án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho bà T, ông D số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị T và ông Chu Văn D, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Áp dụng Điều 166, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Tuyên xử, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chu Thị Đ; buộc vợ chồng ông Chu Văn D và và Trần Thị T phải trả cho bà Chu Thị Đ số tiền nợ lãi là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Chu Văn D và và Trần Thị T được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
Hoàn trả cho bà Trần Thị T và ông Chu Văn D 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004212 ngày 09/6/2023.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
Bản án số 01/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 01/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị Thú và ông Chu Văn Duyệt phải trả cho bà số tiền còn nợ lãi là 66.200.000 đồng
