TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 01/2024/DS-PT Ngày 05/01/2024 “Tranh chấp quyền về lối đi qua” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Vân
Các Thẩm phán: Ông Trần Tỷ và bà Nguyễn Thị Như Mai,
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum: Bà Lưu Thị Lý – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 1 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 31/2023/TLPT-DS ngày 31/10/2023 về việc “Tranh chấp quyền về lối đi qua”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXX-PT ngày 14 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn L; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, có mặt.
Bị đơn: Ông Ngô Minh D; địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị M; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị X, có mặt và ông Bùi Xuân V, vắng mặt; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- Chị Nguyễn Thị Thanh T; địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- Ủy ban nhân dân huyện Đ. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hà T1 – chức vụ: Chủ tích UBND huyện Đ; địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự, người đại diện theo ủy quyền, vụ án được tóm tắt như sau:
-Đại diện theo ủy quyền nguyên đơn ông Nguyễn Văn L và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà M trình bày:
Năm 2004 gia đình ông L mua một thửa đất ở của gia đình bà Nguyễn Thị X, diện tích 204m2 đã có Giấy chứng nhận quyền sử dungh đất (Sau đây viết tắt là GCNQSDĐ). Theo hợp đồng chuyển nhượng phía tây giáp đường xóm rộng 6m và đi qua thửa đất nhà anh Đ (được bà X tặng cho con cùng thời điểm chuyển nhượng cho ông L). Sau này ông Đ làm nhà đã xây tường rào ngăn lối đi nên gia đình ông L không đi vào được thửa đất. Ông L đã nhiều lần gặp bà X nói chuyện nhưng không được và cho rằng đã chuyển nhượng anh Ngô Minh D. Ông L tiếp tục gặp anh D để yêu cầu mở lối đi nhưng không đồng ý. Vì vậy, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh D mở lối đi có chiều rộng là 3m, chiều dài con đường theo thửa đất nhà anh D khoảng 6m.
-Bị đơn anh Ngô Minh D và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị T trình bày:
Năm 2020, gia đình anh D nhận chuyển nhượng một căn nhà có hàng rào kiên cố trên diện tích 210m2, thửa đất số 114, tờ bản đồ số 20, của vợ chồng anh Bùi Minh Đ1 tại tổ dân phố 2a, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh Dũng không đồng ý yêu cầu khởi kiện. Lý do: Khi mở con đường thì việc đi lại của gia đình ông D sẽ gặp khó khăn, hiện thửa đất chỉ có một lối vào, chiều rộng giáp con đường xóm khoảng 2,2m nên không thể mở đường 3m theo yêu cầu được.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X và ông Bùi Xuân V trình bày:
Năm 2004 chuyển nhượng cho ông L và bà M một lô đất, khi chuyển nhượng Nhà nước đã đo và đánh vạch để ủi 1 con đường làm lối đi vào thửa đất chuyển nhượng. Nhưng sau này Nhà nước không làm đường nên ông bà có thỏa thuận để lối đi vào thửa đất là 1,5m chiều rộng nhưng ông L và bà M không đồng ý mà yêu cầu 3m. Sau đó, UBND thị trấn làm việc thì ông bà vẫn đồng ý để 1,5m đất. Nếu yêu cầu có 3m đất thì phải trả tiền 1,5m đất còn lại nhưng ông L và bà M không đồng ý trả tiền. Sau đó, bà X cho anh Đ1 xây nhà và xây tường rào bịt con đường này. Nay lô đất trên thuộc sở hữu của anh D và chị T, ông bà không có ý kiến gì.
- Ý kiến của UBND huyện Đ: Trong hồ sơ chuyển nhượng đất thể hiện có đường đi. Tuy nhiên, trong GCNQSDĐ không thể hiện.
Với nội dung vụ án trên, TAND huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum căn cứ các Điều 245, 248 và Điều 254 Bộ luật dân sự; Điều 171 Luật đất đai 2013,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn L.
- + Buộc anh Ngô Minh D và chị Nguyễn Thị Thanh T mở lối đi chung trên thửa đất 114, tờ bản đồ số 20, có tứ cận:
- Phía đông giáp thửa đất số 114, tờ bản đồ số 20, chiều dài 6m.
- Phía bắc giáp thửa đất số 37a, tờ bản đồ số 20, chiều dài 3m.
- Phía tây giáp thửa đất đất số 35, tờ bản đồ số 20, chiều dài 7m (tính từ mép ngoài hàng rào xây tường gạch)
- Phía nam giáp đường xóm chiều dài 3m
- + Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị M1 có nghĩa vụ đền bù giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho anh Ngô Minh D và chị Nguyễn Thị Thanh T là: 31.574.576 đồng (Ba mươi mốt triệu năm trăm bảy mươi bốn ngàn năm trăm bảy mươi sáu đồng).
- + Về án phí: Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị M1 có nghĩa vụ nộp 1.578.728 đồng án phí sơ thẩm dân sự.
Ngoài ra còn tuyên về lãi chậm trả, quyền chỉnh lý đất đai, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 11/10/2023, bị đơn anh D kháng cáo toàn bộ bản án. Lý do: Việc nhận chuyển nhượng là hợp pháp, nếu mở đường đi chỉ đồng ý 01m. Bản án buộc anh chị phải chịu 30.000.000 đồng là ½ giá trị lối đi chung và chi phí tố tụng là không đúng, ảnh hưởng đến quyền lợi. Về giá trị tài sản trên đất buộc đền bù 1.578.728 đồng là quá thấp so với thực tế xây dựng và chưa xem xét hỗ trợ công di dời 03 cây mai là không đúng.
Ngày 13/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà kháng nghị: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên thiếu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với bị đơn.
Tại phiên tòa bị đơn giữ nguyên kháng cáo; nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Các bên đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án: Bị đơn anh Ngô Minh D chị Nguyễn Thị Thanh T đồng ý mở một lối đi chung qua thửa đất số 144, tờ bản đồ số 20, có kích thước chiều rộng 1.5m chiều dài theo thửa đất số 114. các đương sự đồng ý chịu chung số tiền 30.000.000 đồng giá trị lối đi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 BLTTDS, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm; công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự về việc mở lối đi có chiều rộng 1,5m x chiều dài theo thửa đất số 114.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kon Tum, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ pháp luật, người tham gia tố tụng. Kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của bị đơn trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo toàn bộ bản án:
Về sự thoả thuận của các đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội, vì vậy HĐXX công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể:
Bị đơn anh Ngô Minh D chị Nguyễn Thị Thanh T đồng ý mở một lối đi chung qua thửa đất số 144, tờ bản đồ số 20, thuộc quyền sử dụng của anh D chị T, có kích thước chiều rộng 1.5m x chiều dài theo thửa đất số 114 của anh D, có vị trí tại: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất số 114, chiều dài 6.5 m (Chiều dài theo thửa đất số 114)
- Phía Tây giáp thửa đất số 35, chiều dài 7m (tính từ mép ngoài hàng rào xây tường gạch)
- Phía Nam giáp đường xóm chiều rộng 1.5m
- Phía Bắc giáp thửa đất số 37a, rộng 1.5m.
Các đương sự đồng ý chịu chung số tiền 30.000.000 đồng giá trị lối đi. Nguyên đơn vợ chồng ông L, bà M1 và bà X đền bù cho anh D và chị T mỗi người số tiền 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, ông L, bà M1 đền bù tài sản trên đất số tiển 1.574.576 đồng (Một triệu năm trăm bảy mươi bốn ngàn năm trăm bảy mươi sáu đồng).
[3]. Sai sót cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm: Trong vụ án này hợp đồng chuyển nhượng đất thể hiện phía tây giáp đường đi nhưng sơ đồ trích lục thửa đất trong GCNQSDĐ không thể hiện có đường. Cấp sơ thẩm thu thập chứng, UBND huyện có ý kiến về việc này để làm rõ thêm việc tranh chấp. UBND huyện không có quyền lợi và nghĩa vụ gì trong vụ án này. Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định và đưa UBND huyện Đ, tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là không đúng, cần rút kinh nghiệm.
[4]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông L và bà M1 tự nguyện chịu số tiền 4.820.000 đồng, đã nộp đủ. Ông D tự nguyện chịu 1.000.000 đồng và trả lại cho ông L, bà M1.
[5]. Về án phí dân sự: Các đương sự thỏa thuận ông L và bà M1, chịu 1.028.728 đồng án phí sơ thẩm dân sự có giá ngạch và 300.000 đồng án phí phúc thẩm. Bị đơn anh D chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm không có giá ngạch theo kháng nghị của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 245, 248 và Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 171 Luật đất đai 2013;
- Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà và kháng cáo của bị đơn anh Ngô Minh D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thanh T. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
- Công nhận sự thoả thuận của các đương sự như sau:
Bị đơn anh Ngô Minh D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thanh T mở một lối đi chung qua thửa đất số 144, tờ bản đồ số 20, thuộc quyền sử dụng của anh D và chị T cho ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị M, có kích thước chiều rộng 1.5m x 6m, chiều dài theo thửa đất số 114, có vị trí tại: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, có tứ cận như sau:
- Phía Đông giáp thửa đất số 114, chiều dài 6.5 m (Chiều dài theo thửa đất số 114).
- Phía Tây giáp thửa đất số 35, chiều dài 7m (tính từ mép ngoài hàng rào xây tường gạch)
- Phía Nam giáp đường xóm chiều rộng 1.5m
- Phía Bắc giáp thửa đất số 37a, rộng 1.5m.
Ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị M đền bù cho anh Ngô Minh D và chị Nguyễn Thị Thanh T, số tiền 10.574.576 đồng (Mười triệu năm trăm bảy mươi bốn ngàn năm trăm bảy mươi sáu đồng).
Bà Nguyễn Thị X đền bù cho anh Ngô Minh D và chị Nguyễn Thị Thanh T, số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
- Về án phí: Căn cứ các Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6, Điều 18, Điều 24, khoản 2 Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị M, chịu số tiền 1.028.728 đồng (Một triệu không trăm hai mươi tám bảy hai mươi tám đồng) đồng án phí sơ thẩm dân sự và 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí phúc thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số AA/2021/0001740 ngày 20/12/2022 của Chi cục thi hành án huyện Đăk Hà. Còn phải nộp tiếp 1.028.728 đồng (Một triệu không trăm hai mươi tám bảy hai mươi tám đồng).
- Bị đơn anh D chịu số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm không có giá ngạch nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001314 ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án huyện Đăk Hà.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Vân |
Bản án số 01/2024/DS-PT ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM về tranh chấp quyền về lối đi qua
- Số bản án: 01/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền về lối đi qua
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội, vì vậy HĐXX công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể: Bị đơn anh Ngô Minh D chị Nguyễn Thị Thanh T đồng ý mở một lối đi chung qua thửa đất số 144, tờ bản đồ số 20, thuộc quyền sử dụng của anh D chị T, có kích thước chiều rộng 1.5m x chiều dài theo thửa đất số 114 của anh D, có vị trí tại: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, có tứ cận như sau: Phía Đông giáp thửa đất số 114, chiều dài 6.5 m (Chiều dài theo thửa đất số 114) Phía Tây giáp thửa đất số 35, chiều dài 7m (tính từ mép ngoài hàng rào xây tường gạch) Phía Nam giáp đường xóm chiều rộng 1.5m Phía Bắc giáp thửa đất số 37a, rộng 1.5m. Các đương sự đồng ý chịu chung số tiền 30.000.000 đồng giá trị lối đi. Nguyên đơn vợ chồng ông L, bà M1 và bà X đền bù cho anh D và chị T mỗi người số tiền 10.000.000 đồng. Ngoài ra, ông L, bà M1 đền bù tài sản trên đất số tiển 1.574.576 đồng (Một triệu năm trăm bảy mươi bốn ngàn năm trăm bảy mươi sáu đồng).
