|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK GLEI TỈNH KON TUM Bản án số: 01/2023/DS-ST Ngày 16/11/2023 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂKGLEI, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Y Trinh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Khang và Ông Bùi Xuân Cảm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện ĐăkGlei.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Glei tham gia phiên toà: Bà Hiêng Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện ĐăkGlei, tỉnh Kon Tum xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 09/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2023/QĐXXST-DS ngày 08/9/2023; Quyết định tạm ngưng phiên tòa số 01/2023/QÐST-DS ngày 25/9/2023; Quyết định hoãn phiên tòa ngày 24 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- - Đồng nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T; (Có mặt)
- Địa chỉ: Số D H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- - Đồng bị đơn:
- + Ông Vũ Đại N; Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt)
- + Bà Nông Thị V1; Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- Đại diện theo ủy quyền của bà Nông Thị V1: Ông Bế Ích T1; sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Lê Thị H; Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; Đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị H: Ông Vũ Đại N (Có mặt)
- + Bà Đặng Thị N1 (Có mặt)
- Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum + Bà Lê Thị H
- + Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Y Kim L – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
- Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Khắc T2; Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T trình bày:
Năm 2001, gia đình ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T có nhận chuyển nhượng của bà Y V2 thửa đất số 46, tờ bản đồ số 03 vị trí đất tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum với diện tích thổ cư là: 256,6 m² và đất nông nghiệp là: 613,4 m². Đất của gia đình ông V, bà T có chiều dài mặt đường là: 19,2m mặt đường H, có tứ cận cụ thể như sau:
Phía Tây giáp đường H (Đường H hiện nay).
Phía Đông giáp bà Y X.
Phía Nam giáp bà Nông Thị V1.
Phía Bắc giáp ông A B và gia đình ông bà Minh P.
Đến ngày 07/5/2013 gia đình ông V, bà T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BG 736194, thửa đất số 46, tờ bản đồ số 03, diện tích là 870 m², thửa đất có vị trí tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.
Thứ nhất, năm 2009 đến nay bà Nông Thị V1 ngang nhiên dựng nhà tạm trên phần đất có Giấy chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp của ông V, bà T với diện tích là 100m² và cho bà Đặng Thị N1 thuê để bán gà. Nay ông V, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nông Thị V1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm và trả lại hiện trạng đất cho ông V, bà T.
Thứ hai, gia đình ông Vũ Đại N và bà Lê Thị H nhận chuyển nhượng của bà Bế Thị Y và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo chiều ngang mặt đường H là 4,5m, hậu ngang 4,5m thửa đất số 96ª, tờ bản đồ số 4 với diện tích 130,5m². Trước đây bà Bế Thị Y đã thống nhất mốc giới với gia đình ông V, bà T là làm nhà hết đất của bà Bế Thị Y, nhưng hiện tại ông N và bà H có làm mái vòm lấn sang đất của ông V, bà T là 2m ngang theo mặt đường H, vậy ông V, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông N và bà H tháo gỡ mái vòm, trả lại 2m ngang theo đường H và sử dụng đúng 4,5m ngang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông N và bà H.
Đại diện của bị đơn Nông Thị V1 – anh Bế Ích T1 trình bày:
Diện tích đất mà hiện nay bà N1 đang thuê để bán gà là đất của Nhà nước, chưa giao cho ai, nguồn gốc đất là do gia đình bà V1 khai hoang canh tác từ năm 1988 đến nay. Theo như kết quả đi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/10/2023 Tại vị trí bà N1 có xây dựng nhà tạm để bán gà có diện tích 107,3m², trong đó đất bà V1 cho bà N1 thuê để bán gà có lấn chiếm 18,3m², diện tích còn lại 89m² hiện đang xây dựng trên diện tích đất do xã đang quản lý. Tuy nhiên theo như kết quả đi xem xét thẩm định ngày 23/8/2022 thì xác định bà N1 có lấn chiếm 20m² và bà N1 đã tháo dỡ 20m² đã lấn chiếm trên đất ông bà Vinh Thêu trước khi đi mở phiên tòa. Phần đất còn lại hiện Nhà nước cũng chưa giao cho ai nên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn anh Vũ Đại N trình bày:
Anh Vũ Đại N không thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, gia đình anh N không lấn chiếm đất của nhà ông V, bà T và chỉ sử dụng đúng diện tích đất mà gia đình anh N đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể là GCNQSDĐ số CL 967827 cấp ngày 28 tháng 11 năm 2017.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị N1 trình bày:
Năm 2009, bà N1 lên thuê đất của bà Nông Thị V1 tại thôn A, xã Đ để buôn bán gà, vịt, trứng với giá 300.000 đồng/1 tháng từ ngày 01/4/2009 đến 2012. Bà N1 tự thuê đất trống sau đó tôi tự bỏ tiền để làm nhà tạm buôn bán. Khi bà N1 thuê đất bà V1 thì không biết đất đang có tranh chấp. Sau này được UBND xã Đ mời lên làm việc thì bà N1 mới biết đất đang có tranh chấp. Theo như đơn khởi kiện của ông bà Vinh T3 có nói bà N1 làm nhà có lấn chiếm trên phần đất của ông bà Vinh T3 là 100m², trong quá trình Tòa giải quyết và đi xem xét tại chỗ vào ngày 23/8/2022 xác định bà N1 có dựng nhà lấn trên phần đất của ông bà Vinh Thêu là 20m² chứ không phải 100m² như ông V bà T3 khởi kiện. Bà N1 thống nhất với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/8/2022, bà N1 có xây dựng nhà tạm lấn sang phần đất của ông bà V Thêu 20m² và bà N1 đã tháo dỡ phần đất này, tuy nhiên Nguyên đơn không đồng ý với kết quả xem xét ngày 23/8/2022 và có đơn yêu cầu đi xem xét lại, theo như kết quả đi xem xét lại vào ngày 12/10/2023 thì diện tích bà N1 dựng nhà để bán gà có diện tích 107,3 m² thì có lấn chiếm vào đất của ông bà Vinh Thêu 18,3m², còn lại diện tích 89m² là đất do Nhà nước quản lý chưa giao ngoài ra bà N1 không có ý kiến gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã Ð - Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Khắc T2; Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum trình bày:
Theo như đơn khởi kiện của ông bà Vinh T3 yêu cầu Tòa án giải quyết hai nội dung: Thứ nhất, ông bà Vinh T3 cho rằng bà N1 dựng nhà bán gà trên đất của ông bà Vinh T3 là 100m²; Thứ hai, ông V, bà T3 cho rằng ông N, H có lấn chiếm đất của ông bà V, Thêu 2m ngang làm mái vòm theo đường H.
Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/10/2023, đại diện UBND xã Đ có tham gia. Xác định diện tích đất đang tranh chấp mà bà Đặng Thị N1 hiện nay đang dựng nhà để bán gà trong đó: 89m² là đất chưa giao cho ai, đất này vẫn thuộc đất do UBND xã Đ đang quản lý (Tại thửa đất số 106 tờ bản đồ số 14 đo đạc chính quy năm 2014); 18,3m² xây dựng nhà tôn trên phần diện tích đất đã cấp cho hộ ông Nguyễn Văn V và Phùng Thị T. (Hiện gia đình bà N1 tự tháo dỡ diện tích 18,3m² đã lấn chiếm).
Đối với diện tích đất đang tranh chấp mà ông N hiện nay đang dựng mái vòm lấn chiếm 2m ngang theo đường H thuộc đất xã đang quản lý (vị trí tính từ 19,6m trở về đường hồ chí minh theo hướng tây). Về phần phía bắc nhà ông N, bà H có lợp nhà mái tôn có chiều rộng 1,75m và chiều dài 7,7m về hướng đông có đè lên phần đất của ông bà Vinh Thêu, UBND xã Đ thống nhất như kết quả và biên bản thẩm định tại chỗ ngày 12/10/2023.
Đối với diện tích đất hiện tại chưa giao (chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho các hộ gia đình đề nghị tháo dỡ toàn bộ công trình trả lại hiện trạng đất cho UBND xã đang quản lý và bố trí sử dụng theo quy định của pháp luật.
Đề nghị tòa án nhân dân huyện Đăk Glei giải quyết, xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc hiện trạng:
- - Theo kết quả đo đạc ngày 23/8/2022 xác định diện tích đất tranh chấp đất mà ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T cho rằng bà Nông Thị V1 lấn chiếm cho bà Đặng Thị N1 thực tế là 20m², phía nguyên đơn không đồng ý và yêu cầu đo đạc lại;
- - Theo kết quả đo đạc lại ngày 12/10/2023 xác định:
- + Đối với diện tích đất ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T cho rằng bà Nông Thị V1 lấn chiếm cho bà Đặng Thị N1 thuê để bán gà có diện tích 107,3m² có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Văn V, bà Phùng Thị T 7,7m; Phía Tây giáp đường H 9,1m; Phía Bắc giáp đất chưa giao dài 13m. Tại vị trí đất có diện tích 107,3 m² này, đất bà V1 cho bà N1 thuê để bán gà có lấn chiếm vào diện tích đất nhà ông V, bà T là 18,3 m², vị trí còn lại có diện tích 89 m² là đất do Nhà nước quản lý, chưa giao.
- + Đối với diện tích đất đang tranh chấp mà ông V, bà T cho rằng ông N có làm mái vòm 2m ngang theo đường H, thực tế xem xét thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất này thuộc đất xã đang quản lý (vị trí tính từ 19,6m trở về đường H theo hướng Tây). Về phần phía bắc nhà ông N, bà H có lợp tạm mái tôn có chiều rộng 1,75m, chiều dài 7,7m về hướng đông có đè lên đất nhà ông V, bà T.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần để các bên thỏa thuận với nhau nhưng không thành. Theo biên bản hòa giải lập ngày 23/8/2023 và ngày 30/8/2023 Nguyên đơn không thống nhất theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ; bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thống nhất với kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị:
- - Buộc các ông Vũ Đại N và bà Lê Thị H phải tháo dỡ toàn bộ công trình nhà mái vòm lấn sang thửa đất số 46, tờ bản đồ số 03; trả lại chiều rộng 2m tính theo chiều ngang mặt đường H kéo về phía sau chiều dài thửa đất là 17,4m ( tính từ tim đường kéo về phía sau thửa đất là 19,6m); tại thôn 14b, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; số phát hành BG 736194 ) của ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T.
- - Buộc Bị đơn Bà Nông Thị V1 phải tháo dỡ phần căn nhà tạm có diện tích 18,3m² đất ở nông thôn (Bà V1 đang cho bà Đặng Thị N1 thuê để bán gà) nhà xây dựng trái phép trên thửa đất số 46, tờ bản đồ số 03; tại thôn 14b, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; số phát hành BG 736194) trả lại nguyên trạng mặt bằng sử dụng đất ban đầu cho đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T.
- - Buộc Bị đơn bà Nông Thị V1 phải tháo dỡ toàn bộ diện tích nhà tạm xây dựng trái phép trên diện tích 89m² đất nông nghiệp (bà V1 đang cho bà Đặng Thị N1 Thuê để bán gà) thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 14 tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Ông V bà T đang làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất) giao trả mặt bằng sử dụng đất cho ông Nguyễn Xuân V3 và bà Phùng Thị T tạm thời quản lý và sử dụng cho đến khi Nhà nước có quyết định xử lý theo quy định của pháp luật, hoàn tất hồ sơ “Đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữa nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” đối với thửa đất này theo quy định của pháp luật.
Đại diện của bà Nông Thị V1 – anh Bế Ích T1 trình bày:
Thống nhất tháo dỡ phần căn nhà tạm có diện tích 18,3m² đất ở nông thôn (Bà V1 đang cho bà Đặng Thị N1 thuê để bán gà) trả lại cho ông V3, bà T. Bà N1 đã tháo dỡ căn nhà tạm trên diện tích đất nêu trên trước khi mở phiên tòa hôm nay. Phần đất còn lại hiện Nhà nước cũng chưa giao cho ai nên yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh Vũ Đại N trình bày: Không thống nhất với yêu cầu mà nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày, gia đình anh N không lấn chiếm đất của nhà ông V3, bà T và chỉ sử dụng đúng diện tích đất mà gia đình anh N đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể là GCNQSDĐ số CL 967827 cấp ngày 28 tháng 11 năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên phát biểu và kết luận về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, việc Toà án thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật; quá trình xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 166 Bộ luật dân sự; Điều 26; 35; 144; 147; 157 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 203 Luật đất đai 2013; Điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ủy ban thường vụ Quốc Hội về thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu của ông V3, bà T đề nghị bà Nông Thị V1 tháo dỡ căn nhà tạm có diện tích 18,3m² đất bà Nông Thị V1 cho bà Nguyễn Thị N2 thuê dựng nhà tạm để bán gà trên thửa đất số 46; tờ bản đồ số 03, vị trí đất tại Thôn A, xã Đ, huyện Đ theo Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, số phát hành BG 736194 (bà N2 đã tự tháo dỡ trước khi vụ án được đưa ra xét xử) để trả lại cho ông bà Vinh T3.
- - Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Nông Thị V1 tháo dỡ toàn bộ phần diện tích nhà tạm xây dựng trái phép trên diện tích 89m² đất nông nghiệp (bà V1 đang cho bà N2 thuê để bán gà) thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 14 tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum để giao trả mặt bằng sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T tạm thời quản lý và sử dụng cho đến khi ông V, bà T hoàn tất hồ sơ “Đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” đối với thửa đất này theo quy định của pháp luật.
- - Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc ông N, bà H phải tháo dỡ mái tôn (tôn lợp tạm) phía bắc căn nhà tiếp giáp với phần đất của V, T có chiều rộng 1,75m và chiều dài 7,7m với diện tích 13,47m² (vị trí được xác định từ 19,6m trở về theo hướng Đông) lấn lên phần đất của V, T để trả lại đất cho ông V, bà T.
Về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Nguyên đơn Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất và tháo dỡ tài sản trên đất đối với bị đơn ông Vũ Đại N, bà Nông Thị V1. Đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đối với thửa đất số 46, tờ bản đồ số 03, diện tích là 870 m², có vị trí tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn có nơi cư trú tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Do vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đăk Glei theo quy định tại Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Xác định quan hệ tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T là buộc bà Nông Thị V1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm 100m2 và trả lại hiện trạng đất cho ông V, bà T; buộc ông Vũ Đại N tháo gỡ mái vòm, trả lại 2m ngang theo đường H và sử dụng đúng 4,5m ngang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông N.
Đây là tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp này đã được UBND xã Đ, huyện Đ tiến hành hòa giải nhưng không thành nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 9 điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013.
- Nhận định về nội dung:
Yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu:
- * Đối với yêu cầu buộc bà Nông Thị V1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm 100m2 và trả lại hiện trạng đất cho ông V, bà T.
Trong đó buộc bà Nông Thị V1 phải tháo dỡ phần căn nhà tạm có diện tích 18,3m² đất ở nông thôn (Bà V1 đang cho bà Đặng Thị N1 thuê để bán gà) nhà xây dựng trái phép trên thử đất số 46, tờ bản đồ số 03; tại thôn 14b, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; số phát hành BG 736194 ) trả lại nguyên trạng mặt bằng sử dụng đất ban đầu cho đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T; Buộc bà Nông Thị V1 phải tháo dỡ toàn bộ diện tích nhà tạm xây dựng trái phép trên diện tích 89m² đất nông nghiệp (bà V1 đang cho bà Đặng Thị N1 Thuê để bán gà) thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 14 tại thôn 14b, xã Đ huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Ông V bà T đang làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất ) giao trả mặt bằng sử dụng đất cho ông Nguyễn Xuân V3 và bà Phùng Thị T tạm thời quản lý và sử dụng cho đến khi Nhà nước có quyết định xử lý theo quy định của pháp luật, hoàn tất hồ sơ “Đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữa nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” đối với thửa đất này theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/10/2023 xác định diện tích đất ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T cho rằng bà Nông Thị V1 lấn chiếm cho bà Đặng Thị N1 thuê để bán gà có diện tích 107,3m² có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Văn V, bà Phùng Thị T 7,7m; Phía Tây giáp đường H 9,1m; Phía Bắc giáp đất chưa giao dài 13m. Tại vị trí đất có diện tích 107,3 m² này, đất bà V1 cho bà N1 thuê để bán gà có lấn chiếm vào diện tích đất nhà ông V, bà T là 18,3 m², vị trí còn lại có diện tích 89m² là đất do Nhà nước quản lý, chưa giao.
Vì vậy, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T buộc bà Nông Thị V1 tháo dỡ xây dựng nhà tạm cho bà N1 thuê bán gà có lấn chiếm trên phần đất của ông bà Vinh T3 là 18,3m². Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thị N1 đã tự nguyện tháo dỡ nhà tạm trên diện tích đất trên trước khi đưa vụ án ra xét xử.
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Nông Thị V1 tháo dỡ toàn bộ phần diện tích nhà tạm xây dựng trái phép trên diện tích 89m² đất nông nghiệp (bà V1 đang cho bà N1 thuê để bán gà) thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 14 tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Ông V bà T3 đang làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) giao trả mặt bằng sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T tạm thời quản lý và sử dụng cho đến khi Nhà nước có quyết định xử lý theo quy định của pháp luật, hoàn tất hồ sơ “Đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” đối với thửa đất này theo quy định của pháp luật. Phần đất này chưa giao cho cá nhân, hộ gia đình nào, Nhà nước đang quản lý từ trước đến nay. Hồ sơ xin cấp GCN QSDĐ của ông V, bà T đối với diện tích đất này là đã được UBND huyện Đ trả lại theo quy định pháp luật do đất đang có sự tranh chấp.
- * Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Vũ Đại N và bà Lê Thị H phải tháo dỡ toàn bộ công trình nhà mái vòm lấn sang thửa đất số 46, tờ bản đồ số 03; trả lại chiều rộng 2m tính theo chiều ngang mặt đường H kéo về phía sau chiều dài thửa đất là 17,4m (tính từ tim đường kéo về phía sau thửa đất là 19,6m); tại thôn 14b, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum (Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; số phát hành BG 736194) của ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T. Theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/10/2023, qua thực tế đo đạc xác định phần đất tranh chấp là 1.75m theo mặt đường H; ông Vũ Đại N có lấn chiếm một phần trên diện tích đất của ông bà V thêu (vị trí xác định lấn chiếm từ 19,6m kéo về hướng đông với diện tích 13,47m², kích thước 7,7m x 1,75m), nên buộc tháo dỡ phần mái tôn lợp tạm trên diện tích đất lấn chiếm trả lại cho ông bà Vinh T3. Và phần còn lại là đất chưa giao cho cá nhân, hộ gia đình nào, Nhà nước đang quản lý từ trước đến nay (vị trí được xác định từ 19,6m trở về đường H theo hướng tây với diện tích 16,8m² kích thước như sau 9,6m x 1,75m nên không chấp nhận yêu cầu này.
- * Đối với yêu cầu buộc bà Nông Thị V1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm 100m2 và trả lại hiện trạng đất cho ông V, bà T.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Số tiền chi phi xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần, vì vậy đồng nguyên đơn ông Nguyễn Văn V, bà Phùng Thị T, bị đơn ông Vũ Đại N, bị đơn bà Nông Thị V1 cùng phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ông Nguyễn Văn V, bà Phùng Thị T phải chịu 1.000.000 đồng (một triệu đồng) chi phi xem xét thẩm định tại chỗ; Ông Vũ Đại N và bà Nông Thị V1 mỗi người phải chịu 1.000.000 đồng (một triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Xác nhận ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T đã nộp 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Ông Vũ Đại N và bà Nông Thị V1 phải hoàn trả cho ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
- Về án phí: Ông Vũ Đại N và bà Nông Thị V1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 100, 101,102, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 579 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ khoản 9 Điều 26; 147; 156; khoản 1, Điều 5; Điều 35; Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T:
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thị N1 tháo dỡ nhà tạm trên diện tích đất 20m² mà bà Nông Thị V1 cho bà N1 thuê bán gà, trả lại phần đất có diện tích 18,3m² lấn chiếm cho ông Nguyễn Văn V, bà Phùng Thị T.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bà Nông Thị V1 tháo dỡ toàn bộ phần diện tích nhà tạm xây dựng trái phép trên diện tích 89m² đất nông nghiệp (bà V1 đang cho bà N1 thuê để bán gà) thuộc thửa đất số 99, tờ bản đồ số 14 tại thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum, phần đất này nằm trên phần đất chưa giao, Nhà nước đang quản lý.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Vũ Đại N, bà Lê Thị H phải tháo dỡ mái tôn (tôn lợp tạm) phía bắc căn nhà tiếp giáp với phần đất của ông Nguyễn Văn V, bà Phùng Thị T có chiều rộng 1,75m và chiều dài 7,7m với diện tích 13,47m² (vị trí được xác định từ 19,6m trở về theo hướng Đông) lấn lên phần đất của V, T. Buộc anh N, chị H tháo dỡ mái tôn (tôn lợp tạm) để trả lại đất này cho ông V, bà T.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Vũ Đại N, bà Lê Thị H tháo dỡ 2m ngang phía trước tính theo chiều ngang mặt đường H.
(Theo kết quả đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ, và sơ đồ trích lục kèm theo)
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Ông Nguyễn Văn V, bà Phùng Thị T phải chịu 1.000.000 đồng (một triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; Ông Vũ Đại N và bà Nông Thị V1 mỗi người phải chịu 1.000.000 đồng (một triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Xác nhận ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T đã nộp 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Ông Vũ Đại N và bà Nông Thị V1 phải hoàn trả cho ông Nguyễn Văn V và bà Phùng Thị T số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Vũ Đại N và bà Nông Thị V1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn V, bà Phùng Thị T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA2021/0003490 ngày 31/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum.
Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/11/2023). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Y Trinh |
Bản án số 01/2023/DS-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂKGLEI, TỈNH KON TUM về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
- Số bản án: 01/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ tài sản trên đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂKGLEI, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
