TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI L TỈNH QUẢNG N Bản án số: 01/2023/HSST Ngày 12/01/2023 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI L, TỈNH QUẢNG N
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ph
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị H
Ông Nguyễn Đình B
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt S- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại L, tỉnh Quảng N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ph - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại L, tỉnh Quảng N mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 51/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Bùi Minh H - Giới tính: Nam; tên gọi khác: không; sinh ngày: 12 tháng 11 năm 1999, tại: Đại L, Quảng N; Nơi ĐKHKTT: thôn Liên Th, xã Đại Ngh, huyện Đại L, Quảng N; chỗ ở hiện nay: thôn Liên Th, xã Đại Ngh, huyện Đại L, Quảng N; Trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông: Bùi T - Sinh năm 1965; Con bà: Nguyễn Thị B - Sinh năm 1965; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 03 chị em, bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
* Bị cáo:
Họ và tên: Bùi Minh H; giới tính: Nam
Sinh ngày 12 tháng 11 năm 1999 tại Đại L, Quảng N.
Nơi ĐKHK và chỗ ở hiện nay: Thôn Liên Th, xã Đại Ngh, huyện Đại L, tỉnh Quảng N.
* Bị hại: Ông Tôn Thất K, sinh năm 1955; (vắng mặt).
Trú tại: Thôn Ngọc Kinh Đ, xã Đại H, huyện Đại L, tỉnh Quảng N.
* Đại diện hợp pháp cho bị hại:
- + Bà Lương Thị L, sinh năm 1959; (Vắng mặt).
- Trú tại: Thôn Ngọc Kinh Đ, xã Đại H, huyện Đại L, tỉnh Quảng N.
- + Tôn Nữ Diệu H, sinh năm 1980; (có mặt).
- Trú tại: Số nhà 22, đường Phùng Chí K, phường Hòa M, quận Liên Ch, thành phố Đà N.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi T, sinh năm 1963; (có mặt).
Trú tại: Thôn Liên Th, xã Đại Ngh, huyện Đại L, tỉnh Quảng N.
* Người làm chứng:
- + Ông Lê Thanh V, sinh năm 1984; (Vắng mặt).
- + Bà Hà Thị L, sinh năm 1966; (Văng mặt).
- Cùng trú tại: Thôn Ngọc Th, xã Đại H, huyện Đại L, tỉnh Quảng N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Bùi Minh H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại L, tỉnh Quảng N truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Sáng ngày 18/6/2022, Bùi Minh H có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô BKS: 92E1-482.38 đi từ Cty xi măng Xuân Thành, huyện Nam Giang về nhà tại xã Đại Ngh, huyện Đại L. Khi H điều khiển xe mô đến Km51+500 đường QL14B thuộc thôn Ngọc Th, xã Đại H, huyện Đại L thì lúc này khoảng 07h cùng ngày, H phát hiện phía trước cùng chiều phía bên pH cách xe mô tô H điều khiển khoảng 100m có xe mô tô BKS: 92E1-119.96 do ông Tôn Thất K (sinh năm 1955, trú thôn Ngọc Kinh Đ, xã Đại H, huyện Đại L) điều khiển, H tiếp tục điều khiển xe mô tô với tốc độ khoảng 45-50km/h nhằm chạy vượt lên bên trái xe mô tô do ông K điều khiển. Khi xe mô tô của H điều khiển cách xe mô tô ông K khoảng 03m thì H thấy ông K điều khiển xe chuyển hướng qua bên trái đường, cùng lúc này H điều khiển xe mô tô của mình vượt lên không tránh kịp nên tay lái bên pH xe mô tô H gạt vào tay lái bên trái xe mô tô K, đồng thời chân thắng bên pH xe mô tô H gạt vào manh chắn gió bên trái xe mô tô ông K làm cho xe mô tô và người K ngã xuống đường, xe môtô BKS: 92E1-482.38 do H điều khiển chạy về phía trước 01 đoạn rồi dừng lại. Ông K được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng (bút lục số 114-131, 156-164).
Theo Bản giám định thương tích số 285/GĐTT.22 ngày 19/7/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Quảng N Kt luận ông Tôn Thất K bị chấn thương sọ não gây nứt xương đá trái, nứt xương đỉnh trái, dập não tụ máu nhu mô thái dương trán pH, tụ máu dưới màng cứng trán thái dương pH dày #5mm. Tụ máu kèm khí dưới màng cứng thái dương trái dày #3mm, các nốt tụ ranh giưới trắng xám vùng trán-nhân nền pH, đỉnh trái. Tụ máu các xoang hàm mặt. Tỉ lệ thương tích 86% (bút lục số 42-43).
Kt quả dựng lại hiện trường nơi xảy ra tai nạn xác định: (chọn hướng Kon Tum đi Đà Nẵng làm mép đường chuẩn để tiến đo vẽ) (bút lục số 71-73)
- + Mặt đường rộng 08m; hiện trường vụ tai nạn để lại vết cày xước liên tục đo được là 0.2m, vết xước có chiều hướng từ Kon Tum đi Đà Nẵng và nằm ở phần đường bên pH theo hướng Kon Tum đi Đà Nẵng, đầu vết xước cách lề chuẩn là 2.25m, đuôi vết xước cách lề chuẩn là 2.15m.
- + Xe mô tô BKS: 92E1-119.96 sau khi xảy ra tai nạn nằm nghiêng sang bên trái, nằm ở phần đường bên pH theo hướng Kon Tum đi Đà Nẵng nằm chếch ngang theo trục đường, đầu xe hướng về bên pH theo hướng Kon Tum đi Đà Nẵng, đuôi xe hướng về lề đường bên trái theo hướng Kon Tum đi Đà Nẵng, yên và ghi đông xe hướng về Đà Nẵng, trục sau cách lề chuẩn là 2.7m, trục trước cách lề chuẩn là 1.6m, trục sau xe cách điểm cuối vết xước là 0.6m.
- + Hiện trường để lại là vết máu không rõ hình dạng đo được trên diện (0.35x0.3)m, vết máu nằm ở phần đường bên pH theo hướng Kon Tum đi Đà Nẵng, tâm vết máu cách lề đường chuẩn là 3.5m, tâm vết máu cách trục sau xe mô tô BKS: 92E1-119.96 là 1.6m.
- + Xe mô tô BKS: 92E1-482.38 sau khi xảy ra tai nạn đỗ ở tư thế cuối cùng, nằm ngoài lề đường bên trái theo hướng Kon Tum đi Đà Nẵng, trục sau xe mô tô cách lề đường chuẩn là 12.5m, trục trước xe mô tô cách lề đường chuẩn là 13.7m, trục sau xe mô tô cách tâm vết máu là 16.7m.
* Về vật chứng: quá trình điều tra Cơ quan điều tra tạm giữ và xử lý vật chứng sau:
Tạm giữ 01 mô tô hiệu Exciter màu xanh đen BKS: 92E1-482.38 và 01 giấy đăng ký xe mang tên Bùi T đã trả lại cho ông Bùi T (là cha của bị cáo Bùi Minh H).
Tạm giữ 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Bùi Minh H đã trả lại cho Bùi Minh H .
Tạm giữ 01 xe mô tô hiệu FanLim màu nâu BKS: 92E1-119.96 và 01 giấy đăng ký xe mang tên Tôn Thất K đã trả lại cho đại diện hợp pháp của ông K.
* Về dân sự: đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận số tiền 78.000.000 đồng và có đơn bãi nại xin giảm hình phạt cho Bùi Minh H.
Lời khai nhận hành vi phạm tội của Bùi Minh H phù hợp với chứng cứ, tài liệu khác do Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi do chạy không đúng phần đường quy định nên dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông hậu quả như trên, đã khai báo thành khẩn và khắc phục, bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của người bị hại và người bị hại.
Tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSĐL ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại L, tỉnh Quảng N đã truy tố bị cáo Bùi Minh H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại L, tỉnh Quảng N giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Bùi Minh H từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Tại hồ sơ vụ án và tại phiên tòa đại diện người bị hại, người làm chứng khai nhận nội dung vụ án như lời khai của bị cáo, phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình mà đã được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phổ biến về quyền, nghĩa vụ của mình trong từng giai đoạn tố tụng và tự khai báo về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Minh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại L, tỉnh Quảng N đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai đại diện hợp pháp của người bị hại, người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định được: Vào sáng ngày 18/6/2022, Bùi Minh H điều khiển xe mô tô BKS: 92E1-482.38 đi từ huyện Nam Giang về nhà tại xã Đại Ngh, huyện Đại L trên tuyến đường Quốc lộ 14B. Khi H điều khiển xe đến Km51+500 thuộc thôn Ngọc Th, xã Đại H, huyện Đại L, lúc này khoảng 07h cùng ngày, do tránh vượt không đảm bảo an toàn nên xe mô tô của H tông vào xe mô tô của ông Tôn Thất K đang điều khiển đi cùng chiều phía trước, hậu quả ông K bị thương tích 86%.
Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở Kt luận: Hành vi điều khiển xe ô tô BKS: 92E1- 482.38 của Bùi Minh H vượt không đảm bảo an toàn nên đã vi phạm quy định tại khoản 5 Điều 4, khoản 1, khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 gây tai nạn giao thông hậu quả ông K bị thương tích 86% nên phạm vào điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Bùi Minh H thì thấy:
Là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi thế nhưng do bị cáo vô ý cẩu thả, xem thường pháp luật. Bị cáo Bùi Minh H điều khiển xe ôtô tải biển số BKS: 92E1-482.38 của Bùi Minh H vượt không đảm bảo an toàn nên đã gây tai nạn giao thông hậu quả ông K bị thương tích 86% nên phạm vào điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Hành vi nêu trên của bị cáo không chỉ gây thiệt hại về sức khỏe của người bị hại trong vụ án mà còn xâm phạm an toàn công cộng tại huyện Đại Lộc nói chung. Hội đồng xét xử nghĩ nên xử lý nghiêm minh đối với bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên xét thấy, khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nhận tội, đã tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo đã khắc phục toàn toàn bộ hậu quả cho người bị hại.Tại hồ sơ và tại phiên tòa đại diện hợp pháp của người bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. HĐXX xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, HĐXX xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục cũng đủ cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
[2.3] Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên HĐXX không xem xét.
[2.4] Về vật chứng:
* Về vật chứng: quá trình điều tra Cơ quan điều tra tạm giữ và xử lý vật chứng sau:
Tạm giữ 01 mô tô hiệu Exciter màu xanh đen BKS: 92E1-482.38 và 01 giấy đăng ký xe mang tên Bùi T đã trả lại cho ông Bùi T (là cha của bị cáo Bùi Minh H).
Tạm giữ 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Bùi Minh H đã trả lại cho Bùi Minh H .
Tạm giữ 01 xe mô tô hiệu FanLim màu nâu BKS: 92E1-119.96 và 01 giấy đăng ký xe mang tên Tôn Thất K đã trả lại cho đại diện hợp pháp của ông K.
Các vật chứng trên đã trao trả cho chủ sở hữu là phù hợp nên HĐXX không xét.
* Về án phí: Bị cáo pH nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Minh H 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi tháng ) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/01/2023).
Giao bị cáo Bùi Minh H cho UBND xã Đại Ngh, Đại L, tỉnh Quảng N giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pH chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Minh H pH chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng N xét xử phúc thẩm.
Đại diện hợp pháp của người bị vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Ph |
Bản án số 01/2023/HSST ngày 12/01/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI L, TỈNH QUẢNG N về hình sự sơ thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 01/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI L, TỈNH QUẢNG N
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BAHS (BUI MINH HAI)
