TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 01/2023/HS-ST Ngày 12 tháng 01 năm 2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Soái
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Sơn
- Ông Bùi Viết Quý
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Bảo Thụy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhất - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2022/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/HSST-QĐ ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức C, sinh ngày 20/9/1996 tại huyện K, Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Thôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1969 và bà Ngô Thị L, sinh năm 1966 (đã chết). Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba.
Tiền án, Tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2022 đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Phạm Xuân K, sinh năm 1972.
- Trú tại: Thôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
+ Ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1969.
Trú tại: Thôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Hoàng Đình T, sinh năm 1987.
- Trú tại: Thôn A, xã D, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Đức C là người nghiện ma túy tại địa phương. Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 21/9/2022, C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47P4-2392 (xe của ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1969, là bố ruột của Cương) đi đến khu vực hẻm đường P, phường N, thành phố T, tỉnh Đắk Lắk và gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lại lịch để mua 300.000₫ ma tuý đá rồi cất giấu trên người để sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, C cất vào túi trước bên phải quần Kaki màu xám lửng đang mặc trên người rồi điều khiển xe về huyện K để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/9/2022, C mặc chiếc quần kaki màu xám, bên trong túi có cất giấu ma tuý đi đến nhà Hoàng Đình T, sinh năm 1987, trú tại Thôn A, xã D, huyện K để rủ T đi đến thị trấn B chơi thì T đồng ý. Lúc này, T mượn xe mô tô biển kiểm soát 47N6-9212 của ông Phạm Xuân K là hàng xóm nhà T rồi chở C đi về hướng thị trấn B, huyện K. Khi đi đến đoạn đường gần khu vực trường Phổ thông trung học Đ, thuộc thôn C, xã E, huyện K thì bị lực lượng Công an phát hiện kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ bên trong túi quần Kaki màu xám bên phải phía trước của C có 01 gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. C khai nhận đó là ma tuý C mua về để sử dụng. Khi đó, Công an huyện Krông Ana đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Đức C về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tiến hành niêm phong vật chứng thu được theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 957/KL-KTHS ngày 29 tháng 9 năm của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,2509 gam, loại Methamphetamine.
Cáo trạng số 46/CT-VKS-HS ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo Nguyễn Đức C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà bị cáo thừa nhận T hiện hành vi như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo xác định có hành vi tàng trữ 0,2509 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 0,2314 gam Methamphetamine (số lượng còn lại sau giám định).
Đối với chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát 47N6-9212 mà Hoàng Đinh T mượn của ông Phạm Xuân K chở Nguyễn Đức C đi và bị thu giữ, quá trình điều tra xác định xe thuộc sở hữu hợp pháp của ông R M, sinh năm 1979, trú tại làng D, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, xe có số máy 5C641023273, số khung 5C64IDY023260, mang biển kiểm soát 81U1-079.64. Đây là tài sản ông R M bị mất trộm vào tháng 10/2020 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Hiện nay vụ việc đang được Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao chiếc xe mô tô trên và tài liệu có liên quan cho Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với Hoàng Đình T là người điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đức C mang theo ma tuý trên người thì bị bắt quả tang. Tuy nhiên, T không biết việc C tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không có căn cứ xử lý.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Nguyễn Đức C do không xác định được nhân thân, lại lịch nên chưa có căn cứ để xử lý.
Đối với ông Phạm Xuân K đã có hành vi mua xe mô tô gắn biển kiểm soát 47N6-9212. Tuy nhiên, khi mua chiếc xe mô tô trên ông K không biết chiếc xe là do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người lương thiện, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Do ý thức coi thường pháp luật, không chấp hành các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 22/9/2022, tại đoạn đường gần khu vực trường Phổ thông trung học Đ, thuộc thôn C, xã E, huyện K, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Đức C có hành vi tàng trữ trái phép 0,2509 gam ma túy, loại Methamphetamine. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
[3] Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ Luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) .................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
c) Heroine, cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
”
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma tuý, là nguyên nhân trực tiếp gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV-AIDS, gia tăng các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, buộc phải biết chất ma tuý được Nhà nước quản lý, mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,2509 gam Methamphetamine là chất ma tuý để sử dụng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Trong tình hình hiện nay, tình trạng sử dụng trái phép chất ma tuý ngày một gia tăng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều gia đình, kéo theo các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã phân tích ở trên. Cần áp dụng hình phạt nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
[6] Đối với Hoàng Đình T là người điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Đức C mang theo ma tuý trên người thì bị bắt quả tang. Tuy nhiên, T không biết việc C tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không có căn cứ xử lý.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Nguyễn Đức C do không xác định được nhân thân, lại lịch nên chưa có căn cứ để xử lý.
Đối với ông Phạm Xuân K đã có hành vi mua xe mô tô gắn biển kiểm soát 47N6-9212. Tuy nhiên, khi mua chiếc xe mô tô trên ông K không biết chiếc xe là do trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu, tiêu hủy 0,2314 gam Methamphetamine (số lượng còn lại sau giám định).
- - Đối với chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát 47N6-9212 mà Hoàng Đinh T mượn của ông Phạm Xuân K chở Nguyễn Đức C đi và bị thu giữ, quá trình điều tra xác định xe thuộc sở hữu hợp pháp của ông R M, sinh năm 1979, trú tại làng D, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, xe có số máy 5C641023273, số khung 5C64IDY023260, mang biển kiểm soát 81U1-079.64. Đây là tài sản ông R M bị mất trộm vào tháng 10/2020 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Hiện nay vụ việc đang được Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai thụ lý, giải quyết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Ana đã ra Quyết định xử lý vật chứng, giao chiếc xe mô tô trên và tài liệu có liên quan cho Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức C 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2022.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy 0,2314 gam Methamphetamine (số lượng còn lại sau giám định) có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
[3] Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức C phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Soái |
Bản án số 01/2023/HS-ST ngày 12/01/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 01/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức C - Tàng trữ trái phép chất ma túy
