Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 01/2023/HS-ST

Ngày 11-01-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Khăm Niên;

Ông Nguyễn Minh Quang.

Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Phùng Tiến Chương- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: La Văn M, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 07/6/1969 tại huyện KS, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản CM, xã LK, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông La Văn T (Đã chết) và bà Kha Thị C; Vợ: Mạc Thị S và 02 con; Tiền án: Không, tiền sự: Ngày 10/9/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 08/01/2021. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 9 năm 2022 đến nay (Có mặt tại phiên tòa);

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Hà – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An (Có mặt);

- Người chứng kiến: Anh Bùi Vi L. (Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 20/9/2022, La Văn M đi chơi tại bản KK, xã LK, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An thì gặp một người đàn ông lạ mặt. M hỏi chỗ mua ma túy và được người đàn ông này chỉ chỗ mua ma túy rồi chở M đi vào bản Đ, xã LM, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An để tìm mua ma túy. Đến nơi, người đàn ông này cùng với M đi lên đồi tìm mua ma túy và gặp một người đàn ông không quen biết. M với người đàn ông không quen biết này 01 gói heroin với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M đi xuống chỗ người đàn ông chở M đi tìm mua ma túy đang dừng xe, một lúc sau người đàn ông quay lại và chở M đi về nhà. Số ma túy mua được, M chia thành 02 gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy màu trắng để sử dụng. Vào 14 giờ 30 phút, ngày 20/9/2022 tại nhà ở của mình tại bản CM, xã LK, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, M lấy 02 gói ma túy ra để trên ghế chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã LK, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang . Thu giữ trên ghế nơi M đang ngồi 02 gói bằng giấy màu trắng, bên trong chưa chất bột màu trắng.

Kết luận giám định số 1186/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 26/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Hai mẫu chất bột thu giữ của La Văn M kí hiệu M1, M2 gửi tới giám định là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng là 0,15g (Không phẩy mười lăm gam).

Bản Cáo trạng số 01/CT-VKS-TD ngày 12 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đã truy tố La Văn M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: La Văn M mức án từ 01 một năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo; Xử lý vật chứng: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của các bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa để lượng hình mức hình phạt thấp hơn theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo cụ thể 01 năm đến 01 năm 02 tháng, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét gi ảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo La Văn M đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào 14 giờ 30 phút, ngày 20/9/2022, tại bản CM, xã LK, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, La Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,15g (Không phẩy mười lăm gam) ma túy (Heroine) nhằm mục đích để sử dụng . Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Trước đây bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học răn đe, cảnh tỉnh bản thân mà lại tiếp tục tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của kiểm sát viên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý và người đàn ông chở bị cáo do bị cáo không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên Cơ quan điều tra chưa có cơ sở để điều tra làm rõ.

[7] Xử lý vật chứng: Cần tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

  • - Tuyên bố bị cáo La Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Xử phạt: La Văn M 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2022.
  • - Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận ngày 12/12/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);
  • - Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo La Văn M.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 11/01/2023.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh NA;
  • - VKSND huyện Tương Dương;
  • - Công an huyện Tương Dương;
  • - UBND xã LK;
  • - Bị cáo, Trại tạm giam;
  • - Người bào chữa;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Tương Dương;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2023/HS-ST ngày 11/01/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 01/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger