TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 01/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 03/01/2024
V/v tranh chấp "ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Ngọc Trứ
Bà Đặng Thị Tiềm
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong ngày 03 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự.
Nguyên đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1978;
Địa chỉ: khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1979;
Địa chỉ: khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 06/10/2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đặng Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Nguyễn Văn P do quen biết và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 1996, không có đăng ký kết hôn vì lúc đó ông P không chịu làm thủ tục đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống đến năm 2003 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp nhau về tính tình, thường xuyên cãi nhau, vì ông P thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện gây sự và đánh đập bà, có lần bà bị thương tích phải đi bệnh viện để điều trị, công an phường N đã hai lần xử phạt hành chính ông P do có hành vi đánh bà. Nhưng sau đó thì ông P không thay đổi mà vẫn thường xuyên bạo lực đối với bà. Bà và ông P đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 8/2023 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Văn P.
Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 08/12/1997. Hiện con chung đã thành niên và có khả năng lao động được nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông P vắng mặt không lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn bà Đặng Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn P vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa là phù hợp.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn”, bị đơn ông Nguyễn Văn P có hộ khẩu thường trú tại khu phố M, phường N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị T và ông Nguyễn Văn P chung sống vợ chồng vào năm 1996, nhưng không có đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình; điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tố cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp. Nên pháp luật không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đặng Thị T và ông Nguyễn Văn P.
- Về con chung: Quá trình chung sống bà T và ông P có 01 con chung tên Nguyễn Thanh D, sinh ngày 08/12/1997, hiện con chung đã thành niên và có khả năng lao động được, bà T không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà T trình bày tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông P thì không có ý kiến gì về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết.
- Về nợ chung: Bà T trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông P thì không có ý kiến gì về nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn P đã được Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông P không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà T và vắng mặt trong các phiên hòa giải, phiên tòa.
- Về án phí: bà Đặng Thị T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ điểm c khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/01/2001 của Tòa án nhân dân tố cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đặng Thị T và ông Nguyễn Văn P.
- Về án phí: Bà Đặng Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0018714 ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang. Nên bà T đã nộp xong án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà Đặng Thị T và ông Nguyễn Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Thoa |
Bản án số 01/2023/HNGĐ-ST ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp "ly hôn"
- Số bản án: 01/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp "ly hôn"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
