Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH PHƯỚC


Bản án số: 01/2022/HNGĐ-ST

Ngày: 25-02-2022

V/v “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hạnh

Các Hội Thẩm nhân dân: Ông Chung Nguyễn Hữu Thiện và Ông Thạch Lực

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 04/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 4 năm 2020 về việc “Ly hôn”.

Theo Thông báo thụ lý vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/HNGĐ-ST ngày 28/4/2020 và Thông báo về việc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm số 01/TB-TA.HNGĐ-ST ngày 08/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh B, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh ngày 06/01/1994. Quốc tịch: Việt Nam. Nơi cư trú: Tổ 7, Ấp Bàu Lùng, xã T.H, huyện H, tỉnh B, Việt Nam. “Có mặt”

- Bị đơn: Ông J.D.W, sinh ngày 02/4/1967. Giới tính: Nam. Số chứng minh nhân dân: 670402-1221912. Quê quán: OKGU. Quốc tịch: Hàn Quốc. Nơi cư trú: # 114 Samha-ri Jangheung-myeon Yangju-gun Gyeonggi-do, Korea (Hàn Quốc). Hộ chiếu số: KY 0080789. “Vắng mặt”

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 3 năm 2020; Đơn khởi kiện bổ sung ngày 20 tháng 3 năm 2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim D (Quốc tịch: Việt Nam) và ông J.D.W (Quốc tịch: Hàn Quốc) đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh B, Việt Nam theo Giấy đăng ký kết hôn số 69/2012 ngày 27/8/2012. Việc kết hôn là do tự nguyện, không bị ai ép buộc. Hai bên chung sống hạnh phúc với nhau được thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, chồng thường xuyên bạo hành gia đình. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, theo đó ông J.D.W sinh sống tại nước Hàn Quốc còn bà D sinh sống tại nước Việt Nam. Nay xét thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, từ khi ly thân năm 2017 đến nay giữa hai bên cũng không còn liên lạc với nhau, không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng, vì vậy bà D có nguyện vọng yêu cầu được ly hôn với ông J.D.W.

Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung là cháu J.R, sinh ngày 14/12/2014, hiện cháu đang được bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng tại Việt Nam, tuy nhiên bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề con chung, cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Giữa bà Nguyễn Thị Kim D với ông J.D.W không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về bị đơn ông J.D.W: Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh B, Việt Nam đã thực hiện ủy thác tư pháp đến cơ quan có thẩm quyền để tống đạt văn bản tố tụng và thu thập ý kiến trình bày của bị đơn ông J.D.W theo địa chỉ được cung cấp tại hồ sơ đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, việc ủy thác tư pháp không thực hiện được do địa chỉ của bị đơn không chính xác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim D có địa chỉ thường trú tại Việt Nam khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông J.D.W, địa chỉ cư trú tại Hàn Quốc. Đây là vụ án hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh B theo quy định pháp luật.

[2] Bị đơn ông J.D.W đã được Tòa án thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt Thông báo thụ lý vụ án 02 lần nhưng không thể tống đạt được. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai và thông báo trên Cổng thông tin điện tử theo đúng quy định. Đã hết thời hạn thông báo, Tòa án vẫn không nhận được phản hồi, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, xác định quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông J.D.W là hợp pháp. Tuy nhiên, hai bên đã sống ly thân gần 05 năm, không còn liên lạc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà D là có cơ sở để chấp nhận.

[4] Về con chung: Cháu J.R hiện đang được bà D trực tiếp chăm sóc. Do bà D không yêu cầu giải quyết nên Tòa án tách ra thành vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.

[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim D. Xử cho bà Nguyễn Thị Kim D được ly hôn với ông J.D.W.
  2. Về con chung: Tách ra thành vụ án dân sự khác để xem xét khi các đương sự có yêu cầu.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận việc nguyên đơn xác định không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim D phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
  5. Chi phí uỷ thác tư pháp: Bà Nguyễn Thị Kim D phải chịu 200.000 đồng.
  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B;
  • - Cục THADS tỉnh B;
  • - Sở Tư pháp tỉnh B;
  • - UBND huyện H, tỉnh B;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Lê Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2022/HNGĐ-ST ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước về ly hôn

  • Số bản án: 01/2022/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2022
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger