|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ ------------------ Bản án số: 01/2022/DS-ST Ngày: 19/01/2022 V/v: “Tranh chấp về di sản thừa kế” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ----------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Thắng; Ông Nguyễn Bá Điền.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Quang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2021/TLST-DS ngày 16 tháng 6 năm 2021 về chia thừa kế theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXX-ST ngày 10 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Quốc T (tên gọi khác Trần H) - SN: 1950;
Địa chỉ: Tổ dân phố *, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai.
Người được ủy quyền: anh Trần Văn T (tức Trần Văn Th) - SN: 1976.
Địa chỉ: Khu **, xã C, huyện B, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
Bị đơn: ông Trần Hồng Q – sinh năm 1966;
Địa chỉ: Khu **, xã C, huyện B, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đỗ Thị Hương G, sinh năm 1967. Địa chỉ: Khu **, xã C, huyện B, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
- Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1954. Hiện đang ở Đài Loan.
- Ông Trần Đại N, sinh năm 1962. Địa chỉ: Khu **, xã C, huyện B, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
- Anh Trần Văn T (tức Trần Văn Th), sinh năm 1976. Địa chỉ: Khu **, xã C, huyện B, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
- Ông Hà Công B, sinh năm 1956. Địa chỉ: Tổ ***, khu *, phường V, thành phố T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
- Chị Hà Thị T1, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khu *, phường N, thành phố T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
- Chị Hà Thị Thu T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: Khu *, xã H, thành phố T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
- Anh Hà Mạnh T3, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ ***, khu *, phường V, thành phố T, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện theo uỷ quyền của chị Hà Thị T1, chị Hà Thị Thu T2, anh Hà Mạnh T3: Ông Hà Công B, sinh năm 1956. Địa chỉ: Tổ ***, khu *, phường V, thành phố T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn anh Trần Văn T (tức Th) trình bày: Bố tôi là ông Trần Quốc A (đã chết năm 2013), mẹ tôi là bà Lê Thị T4 (đã chết năm 2016). Bố mẹ tôi sinh được 6 người con là Trần Quốc T (tức Trần H); Trần Thị H1 (đã chết năm 2018), bà H1 có chồng là ông Hà Công B và 03 người con là Hà Thị T1, Hà Thị Thu T2 và Hà Mạnh T3; bà Trần Thị H (tên gọi khác: Trần Thị Thu H) hiện nay đang ở Đài Loan; ông Trần Đại N; Trần Hồng Q và tôi.
Bố mẹ tôi chết để lại thửa đất số 282, tờ bản đồ số 26 diện tích 1475m2 (trong đó có 400m2 đất ở, 1075m2 đất vườn) và thửa đất số 245-1 tờ bản đồ số 26 diện tích 663m2 đất lúa. Cùng địa chỉ: Khu **, xã C, huyện B, tỉnh Phú Thọ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P742*** do UBND huyện B cấp ngày 18/11/1999 cho hộ bà Lê Thị T4. Trên đất có nhà cấp 4 ba gian, hai gian bếp tổng diện tích là 110m2, 01 án gián, giường tủ bàn ghế đồ dùng trong nhà, máy bơm, giếng đào năm 1970. Sau khi bố mẹ tôi mất, anh em chúng tôi đã họp gia đình và tạm giao tài sản của bố mẹ cho ông Trần Hồng Q là con trai thứ 5 quản lý tạm thời cho đến khi sang cát cho mẹ tôi thì các anh em sẽ họp lại và tính tiếp, khi đó ai là người trực tiếp cai quản sẽ được giao sau. Năm 2019 ông Q đã tự ý đập phá nhà cửa, xây mới nhà ở và tường rào và cho rằng đây là đất của ông Q không có chúng tôi tham gia vì ông Q cho rằng đất bố mẹ đã bán cho ông.
Nay tôi làm đơn đề nghị Toà án chia di sản thừa kế là thửa đất số 282, tờ bản đồ số 26 diện tích 1475m2 (trong đó có 400m2 đất ở, 1075m2 đất vườn) và thửa đất số 245-1 tờ bản đồ số 26 diện tích 663m2 đất lúa. Cùng địa chỉ: Khu **, xã C, huyện B, tỉnh Phú Thọ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P742*** do UBND huyện B cấp ngày 18/11/1999 cho hộ bà Lê Thị T4. Các tài sản khác trên đất tôi không đề nghị.
Bị đơn ông Trần Hồng Q và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Hương G trình bày: Về lời trình bày (quan hệ gia đình) của anh Trần Văn T: bố mẹ tôi là ông Trần Quốc A (chết năm 2013) và bà Lê Thị T4 (chết năm 2016) có 06 người con như ông T trình bày là đúng. Năm 2007 bố mẹ tôi có vay hộ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông Thôn chi nhánh huyện B số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để anh Thọ đi lao động tại Malaysia. Sau đó anh Thọ đi làm ăn ở Malaysia bị thua lỗ về Việt Nam không trả được nợ bố mẹ tôi phải gọi người để bán nhà đất để trả nợ Ngân hàng. Bố mẹ tôi có gọi anh Nghĩa để bán nhà đất nhưng anh Nghĩa không mua. Bố mẹ tôi đã gọi vợ chồng tôi lên để bán nhà cho vợ chồng tôi với điều kiện phải cho bố mẹ ở nhờ cho đến lúc chết, ốm đau thì vợ chồng tôi phải chăm sóc, chết phải làm ma cho bố mẹ tôi. Vợ chồng tôi đã nhất trí mua với giá 30.000.000đ (Bố mẹ tôi đã nhận đủ tiền) và có nghĩa vụ chăm sóc bố mẹ tôi cho đến khi bố mẹ tôi chết.
Bố mẹ tôi có viết di chúc đề ngày 16/5/2007 và có xác nhận của chính quyền địa phương ngày 06/6/2007, di chúc này bố mẹ tôi viết chỉ để giao cho vợ chồng tôi có trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng bố mẹ khi già yếu bệnh tất, khi bố mẹ qua đời phải lo chôn cất, cúng giỗ, lo mồ mả cho tổ tiên. Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất ngày 05/6/2007 bố mẹ tôi đã chuyển quyền cho vợ chồng tôi và vợ chồng tôi có trách nhiệm với bố mẹ tôi cho đến khi bố mẹ tôi chết. Từ năm 2007 bố mẹ tôi ở cùng vợ chồng tôi, khi bố mẹ tôi ốm đau vợ chồng tôi lo, khi bố mẹ tôi chết vợ chồng tôi lo làm ma chay tại đây.
Ngày 31/5/2007 bố mẹ tôi có chuyển quyền sử dụng nhà đất cho vợ chồng tôi có xác nhận của khu, địa chính xã và UBND xã C xác nhận (xác nhận ngày 06/6/2007). Từ đó cho đến nay vợ chồng tôi sống ổn định không có tranh chấp với ai và có xây nhà mái bằng trên phần diện tích đất trên. Nay, ông Trần Quốc T làm đơn đề nghị chia di sản thừa kế là toàn bộ tài sản là thửa đất số 282, tờ bản đồ số 26 diện tích 1475m2 (trong đó có 400m2 đất ở, 1075m2 đất vườn) và thửa đất số 245-1 tờ bản đồ số 26 diện tích 663m2 đất lúa. Cùng địa chỉ: Khu **, xã C, huyện B, tỉnh Phú Thọ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P742*** do UBND huyện B cấp ngày 18/11/1999 cho hộ bà Lê Thị T4. Quan điểm của vợ chồng tôi không nhất trí vì toàn bộ tài sản trên bố mẹ tôi đã chuyển nhượng (tặng cho) lại cho vợ chồng tôi theo như Đơn xin chuyển quyền sử dụng nhà đất ngày 06/6/2007. Đề nghị tòa án xét xử xác nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản cho vợ chồng tôi như nội dung bản di chúc và giấy chuyển quyền sử dụng đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế đồng thời các đương sự trong vụ án thừa nhận người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Thu H hiện nay đang ở Đài Loan. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quan hệ tranh chấp được xác định trong vụ án là “Tranh chấp về di sản thừa kế”.
[2]. Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự; Hội đồng xét xử xác định như sau: Ông Trần Quốc A (đã chết năm 2013), bà Lê Thị T4 (đã chết năm 2016) sinh được 6 người con là Trần Quốc T (tức Trần H); Trần Thị H1 (đã chết năm 2018), bà H1 có chồng là ông Hà Công B và 03 người con là Hà Thị T1, Hà Thị Thu T2 và Hà Mạnh T3; Trần Thị H (tên gọi khác: Trần Thị Thu H) hiện nay đang ở Đài Loan; Trần Đại N; Trần Hồng Q và Trần Văn T.
Xét Bản di chúc viết tay ngày 31 tháng 5 năm 2007 của cụ A và cụ T4 và Đơn xin chuyển quyền sử dụng nhà đất ngày 05/6/2007 do cụ Trần Quốc A viết, có chữ ký của cụ Lê Thị T4 đều có nội dung: Cụ A và cụ T4 thống nhất chuyển quyền sử dụng nhà và đất của hai cụ (gồm nhà xây cấp 4 diện tích khoảng 110m2, nằm trên diện tích 400m2 đất thổ cư và 1475m2 đất vườn tại tờ bản đồ số 26, thửa 282 đã được cấp GCNQSDĐ) cho vợ chồng ông Q và bà G lấy số tiền 30.000.000đ giúp anh Thọ trả nợ. Vợ chồng ông Q cam kết để hai cụ sử dụng nhà và đất, thu hoa lợi đến khi cả hai cụ qua đời mới tiếp quản. Di sản còn lại chỉ còn 663m2 ruộng cấy lúa, bố mẹ nhất trí để ông thừa kế khi bố mẹ qua đời để ông Q thu hoa lợi chi tiêu vào việc cúng giỗ tổ tiên. Di chúc và đơn xin chuyển quyền sử dụng đất đều được trưởng khu hành chính và địa chính xã xác nhận. Di chúc của cụ A và cụ T4 đảm bảo quy định BLDS 2005. Như vậy có căn cứ xác định bản Di chúc và đơn xin chuyển quyền sử dụng đất của cụ A và cụ T4 có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của Ông T không có căn cứ chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ông Trần Quốc T (tức Trần H) chia di sản thừa kế là toàn bộ tài sản là thửa đất số 282, tờ bản đồ số 26 diện tích 1475m2 (trong đó có 400m2 đất ở, 1075 m2 đất vườn) và thửa đất số 245-1 tờ bản đồ số 26 diện tích 663m2 đất lúa. Cùng địa chỉ: Khu **, xã C, huyện B, tỉnh Phú Thọ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P742*** do UBND huyện B cấp ngày 18/11/1999 cho hộ bà Lê Thị T4.
[2] Xác nhận vợ chồng ông Trần Hồng Q và bà Đỗ Thị Hương G sử dụng diện tích đất thửa đất số 282, tờ bản đồ số 26 diện tích 1475m2 (trong đó có 400m2 đất ở, 1075m2 đất vườn) và thửa đất số 245-1 tờ bản đồ số 26 diện tích 663m2 đất lúa. Cùng địa chỉ: Khu **, xã C, huyện B, tỉnh Phú Thọ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P742*** do UBND huyện B cấp ngày 18/11/1999 cho hộ bà Lê Thị T4 và được sở hữu toàn bộ tài sản cây cối lâm lộc trên phần diện tích đất trên.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - THA tỉnh Phú Thọ; - Người khởi kiện; - Người bị kiện; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS, AV. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Kim Ái |
Bản án số 01/2022/DS-ST ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về di sản thừa kế
- Số bản án: 01/2022/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/01/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về di sản thừa kế giữa ông Trần Quốc T và ông Trần Hồng Q
