|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 01/2022/DS-ST Ngày 04-01-2022 V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Đức Thọ
- Bà Trần Xuân Đạm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên
Trong các ngày 28 tháng 12 năm 2021 và ngày 04 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 112/TLST – DS ngày 14 tháng 8 năm 2020, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2021/QĐXXST- DS ngày 29 tháng 10 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2021/QĐST-DS 24/11/2021 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1976 (có mặt)
- Địa chỉ: ấp 1, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
- * Bị đơn:
- 1. Bà Thị N, sinh năm 1975 (có mặt)
- 2. Bà Thị L1, sinh năm 1979 (có mặt)
- 3. Bà Lâm Thị H, sinh năm 1977 (vắng mặt khi xét xử, có mặt khi tuyên án)
- Cùng địa chỉ: ấp Tà Thiết, xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
- * Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Thị L1, Thị N, Lâm Thị H và ông Lâm C: Ông Dương Tất P – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bình Phước (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- 1) Bà Thị L2, sinh năm 2002 (có mặt)
- 2) Bà Lâm Thị V, sinh năm 2000 (vắng mặt)
- 3) Ông Điểu Cu A, sinh năm 1996 (vắng mặt)
- 4) Bà Thị N1 (vắng mặt)
- 5) Ông Lâm Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt)
- 6) Bà Thị T1, sinh năm 2001 (vắng mặt)
- 7) Ông Thạch T2 (vắng mặt)
- 8) Ông Lâm C, sinh năm 1973 (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
- 9) Ông Trần Văn PH, sinh năm 1974 (vắng mặt)
- * Người phiên dịch: Thị SPhon – Công chức tư pháp xã Lộc Thịnh (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn – bà Trần Thị Mỹ L trình bày:
Vào ngày 09/9/2019, bà L nhận chuyển nhượng 01 thửa đất diện tích 10.101,6m2 tọa lạc tại ấp Tà Thiết, xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước của ông Lê Thành Tuấn. Thửa đất có nguồn gốc là đất của ông Điểu Chia, bà Bùi Thị Thao được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Lộc Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số CH00031 ngày 31/3/2014. Ông Chia, bà Thao chuyển nhượng lại cho ông Lê Thành Tuấn, ông Tuấn được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp GCNQSDĐ số CS00559 ngày 12/7/2018. Ngày 09/9/2019, ông Tuấn chuyển nhượng lại thửa đất trên cho bà L. Bà L đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp GCNQSDĐ số CS 540812 ngày 31/10/2019.
Ngày 11/4/2020, bà L đến thửa đất để thăm nom thì phát hiện bà L1 và bà Thị N và bà Thị H đang sinh sống trên đất của bà L. Bà L1, bà N và bà H cho rằng phần đất này là đất của bà L1, bà N và bà H nên không trả lại đất cho bà L.
Nay bà L yêu cầu bà Thị L1 trả lại diện tích 4.523,9m2, yêu cầu bà Thị N trả lại diện tích đất 5.469,3m2, yêu cầu bà Lâm Thị H trả lại diện tích đất 108,4m2 theo Mảnh trích đo địa chính số 198/2021 ngày 03/6/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Lộc Ninh. Đồng thời yêu cầu những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang sinh sống trên diện tích đất tranh chấp phải di chuyển đi ra khỏi diện tích đất của bà L.
Bà L đồng ý hoàn trả toàn bộ giá trị cây trồng trên đất cho bà Thị L1, Thị N, bà Lâm Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang sinh sống trên diện tích đất tranh chấp theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản, ngoài ra hỗ trợ thêm cho bà Thị L1 số tiền 20.000.000đồng, bà Thị N số tiền 20.000.000đồng và bà Lâm Thị H số tiền 10.000.000đồng.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Thị L1 trình bày:
Phần đất mà bà L đang tranh chấp có nguồn gốc là đất của bà Thị N1 (mẹ của bà L1, bà N và bà H), bà Thị N1 cho bà L1, bà N và Thị H cách đây khoảng 20 năm. Bà L1, bà N, bà H quản lý, sử dụng ổn định từ đó đến nay. Sau khi mẹ bà cho thì bà chỉ làm được 01 phần đất phía giáp suối để trồng lúa nước, sau đó bà khai phá từng mảnh nhỏ để trồng lúa nước. Đến năm 2007 thì bà đã khai phá đến đường mương nước như hiện nay, đến năm 2018 thì bà chuyển sang trồng cây keo như hiện nay. Phần đất của ông Lâm Panh cho bà là nằm phía giáp suối, phần đất này của ông Lâm Panh đã được ủy ban nhân dân xã Lộc Thành xác nhận, tuy nhiên không nằm trong phần diện tích đất tranh chấp với bà L.
Nay bà L yêu cầu bà L1 trả lại đất thì bà L1 đồng ý trả lại đất cho bà L nhưng bà L phải bồi thường giá trị đất là 55.000.000 đồng/sào, đồng thời phải bồi thường toàn bộ giá trị cây trồng và tài sản trên đất. Tại biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá vào ngày 21/10/2021 bà L1 không đồng ý với giá mà Hội đồng định giá đưa ra. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà L1 đồng ý với giá trong biên bản định giá tài sản và yêu cầu bà L bồi thường toàn bộ giá trị cây trồng và tài sản trên đất theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá vào ngày 21/10/2021.
* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Thị N trình bày:
Phần đất mà bà L đang tranh chấp có nguồn gốc là đất của bà Thị N1 (mẹ của bà L1, bà N và bà H), bà Thị N1 cho bà L1, bà N và bà H cách đây khoảng 20 năm. Bà L1, bà N, bà H quản lý, sử dụng ổn định từ đó đến nay. Nay bà L yêu cầu bà N trả lại đất thì bà N đồng ý trả lại đất cho bà L nhưng bà L phải bồi thường giá trị đất là 55.000.000 đồng/sào, đồng thời phải bồi thường toàn bộ giá trị cây trồng và tài sản trên đất. Tại biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá vào ngày 21/10/2021 bà N không đồng ý với giá mà Hội đồng định giá đưa ra. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà N đồng ý với giá trong biên bản định giá tài sản và yêu cầu bà L bồi thường toàn bộ giá trị cây trồng và tài sản trên đất theo biên bản định giá tài sản của Hội đồng định giá vào ngày 21/10/2021. Tài sản là căn nhà trên đất do vợ chồng Thị L2 và Lâm Văn T dựng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ L khởi kiện buộc bà Thị L1 trả lại diện tích đất 4.523,9m2, buộc bà Thị N trả lại diện tích đất 5.469,3m2, buộc bà Lâm Thị H trả lại diện tích đất 108,4m2 và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Quyền sử dụng đất tọa lạc xã Lộc Thịnh, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ lần thứ 2 các thủ tục tố tụng cho đương sự để tham gia phiên tòa, nhưng bị đơn bà Lâm Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Thị T1, ông Thạch T2, ông Điểu Cu A, bà Lâm Thị V, ông Lâm Văn T, bà Thị N1 và ông Trần Văn PH vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các quy định pháp luật, Tòa án tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Mỹ L. Buộc bà Thị L1 trả lại cho bà Trần Thị Mỹ L diện tích đất 4.523,9m2, bà Thị N trả lại cho bà Trần Thị Mỹ L diện tích đất 5.469,3m2, bà Lâm Thị H trả lại cho bà Trần Thị Mỹ L diện tích đất 108,4m2 theo Mảnh trích đo địa chính số 198-2021 ngày 03/6/2021.
- Bà Trần Thị Mỹ L có trách nhiệm hoàn lại giá trị tài sản trên đất cụ thể như sau:
- Trả cho bà Thị L1 giá trị cây trồng trên đất là 17.184.000đồng.
- Trả cho bà Thị N giá trị cây trồng trên đất và tài sản gắn liền với đất là 36.117.600đồng.
- Trả cho bà Thị T1 và ông Thạch T2 giá trị căn nhà trên đất là 14.783.280đồng.
- Trả cho bà Thị L2 và ông Lâm Văn T giá trị căn nhà trên đất là 8.326.000đồng.
- Trả cho bà Lâm Thị H và ông Lâm C giá trị cây trồng trên đất là 880.000đồng.
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà L về việc hỗ trợ thêm cho bà Thị L1 số tiền 20.000.000đồng, bà Thị N số tiền 20.000.000đồng và bà Lâm Thị H số tiền 10.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Thị L1, Thị N và Lâm Thị H mỗi người phải chịu 300.000đồng. Bà Trần Thị Mỹ L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 3.864.544đồng.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 01/2022/DS-ST ngày 04/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 01/2022/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đất giữa bà L và bà N
