|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG TỈNH GIA LAI Bản án số: 01/2021/KDTM-ST Ngày: 18/3/2021 “V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thi.
- Bà Võ Thị Cảnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nông Trường Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 18/3/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 02/2020/TLST-KDTM ngày 29/10/2020 về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2021/QĐXXST-KDTM ngày 29/01/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2021/QĐST- KDTM ngày 25/02/2021, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng N (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng);
Địa chỉ: Số 02 L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền là ông Đỗ Thanh B, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện Kbang Đông Gia Lai. Địa chỉ: Số 35 V, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. (Văn bản ủy quyền số 334/NHNoKBĐGL-TH ngày 19/10/2020). - - Bị đơn: Bà Mai Thị T, sinh năm 1967 và ông Trần Văn H, sinh năm 1966;
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố 11, thị trấn Kbang, huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
Ông B có đơn xin xét xử vắng mặt; bà T và ông H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đỗ Thanh B trình bày:
Ngày 21/11/2019, bà Mai Thị T và ông Trần Văn H đã vay vốn tại Ngân hàng N thông qua Ngân hàng N chi nhánh huyện Kbang Đông Gia Lai với số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng số: 5008LAV201904048 và Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 5008LDS201906589 ngày 21/11/2019, mục đích sử dụng tiền vay: Vay vốn lưu động kinh doanh giày dép, với lãi suất cho vay là 10%/năm, lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi chậm trả: 10%/năm. Thời hạn vay 10 tháng, hạn trả nợ cuối cùng ngày 21/9/2020.
Để đảm bảo cho khoản vay bà T, ông H đã thế chấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AI X, thửa đất số 78a, tờ bản đồ số 26, diện tích 180m2 tại tổ dân phố X (trước đây là tổ dân phố 18), thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai do UBND huyện Kbang cấp ngày 15/11/2007 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 3826 ngày 20/11/2019.
Trong thời gian vay vốn, bà T – ông H đã sử dụng vốn vay không hiệu quả, Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 22/9/2020, đồng thời Ngân hàng cũng nhiều lần thông báo đòi nợ, đôn đốc, nhắc nhở bằng nhiều hình thức nhưng bà T – ông H vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tính đến hết ngày 19/10/2020, bà T – ông H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 521.643.836 đồng, bao gồm: Nợ gốc là 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 19.726.028 đồng và nợ lãi quá hạn là 1.917.808 đồng.
Tại bảng kê tính lãi ngày 17/3/2021, Ngân hàng bổ sung yêu cầu bà T – ông H còn phải trả tiếp số tiền nợ lãi trong hạn và quá hạn phát sinh từ ngày 20/10/2020 đến hết ngày 18/3/2021 lần lượt là 20.547.945 đồng và 10.273.973 đồng. Tổng cộng, số tiền Ngân hàng yêu cầu bị đơn bà T – ông H phải trả thông qua Ngân hàng N chi nhánh huyện Kbang Đông Gia Lai là 552.465.754 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 40.273.973 đồng và nợ lãi quá hạn là 12.191.781 đồng (các khoản lãi tính đến hết ngày 18/3/2021).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng N khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Mai Thị T và ông Trần Văn H phải trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng. Đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại, cụ thể là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp: Xét Hợp đồng tín dụng số 5008LAV201904048 và Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 5008LDS201906589 ngày 21/11/2019 được ký kết giữa Ngân hàng với bà T – ông H là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả nợ là có cơ sở.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 30, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Luật các tổ chức tín dụng.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
- Buộc bị đơn bà Mai Thị T và ông Trần Văn H phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng N tổng số tiền là 552.465.754 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 40.273.973 đồng và nợ lãi quá hạn là 12.191.781 đồng.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp bà T và ông H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận số AI X để thu hồi nợ.
- Về án phí: Bị đơn bà Mai Thị T và ông Trần Văn H phải chịu 26.098.630 đồng án phí KDTM sơ thẩm.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND huyện Kbang; - Chi cục THADS huyện Kbang; - Các đương sự; - Lưu HSVA, VPTA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Phương |
| HỘI THẨM NHÂN DÂN Võ Thị Cảnh |
HỘI THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Văn Thi |
THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hồng Phương |
Bản án số 01/2021/KDTM-ST ngày 18/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 01/2021/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2021
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng N và ông H, bà T
