Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỜ ĐỎ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ


Bản án số: 01/2021/KDTM-ST

Ngày: 27 - 5 - 2021

V/v "Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quốc Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thanh Vũ;
  2. Bà Nguyễn Thị Huệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 09/2020/TLVA - KDTM ngày 02 tháng 10 năm 2020 về việc: “Tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng mua bán hàng hoá”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/QĐST - KDTM ngày 22 tháng 4 năm 2021; Thông báo đưa vụ án ra xét xử số 107/2021/TBXX.ST ngày 10 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại L.

Địa chỉ: 68/14 L, phường ...., Quận ...., TP. H.

Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Ngọc L. Chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn A, sinh năm 1990 (vắng mặt tại phiên tòa) và Nguyễn Sỹ B, sinh năm 1996 (Có mặt tại phiên tòa).

Cùng địa chỉ: 116A T, phường H, quận N, TP. C. (Có mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Công ty Cổ phần Chế biến Thực phẩm S.

Địa chỉ: Ấp 1, xã T, huyện C, TP. C.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tấn T. Chức vụ: Tổng Giám đốc. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng lời khai tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại L (Công ty L), ông Nguyễn Sỹ B trình bày: Qua quan hệ mua bán, Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại L (Công ty L) và Công ty CP Chế biến thực phẩm S (Công ty S) có ký hợp đồng mua bán số 02A/LH-SH01/2016 với nội dung Công ty L đồng ý bán và bên B (Công ty S) đồng ý mua phụ gia dùng trong chế biến thuỷ sản. Công ty chấp nhận bán cho Công ty S các sản phẩm Aqua555 (Non Phosphate) với quy cách đóng gói 5kg/PE bags/bao; Aqua666 (Mix Phosphate) với quy cách đóng gói 5kg/PE bag x 5bags/bao; Aqua99 (Non Phosphate) với quy cách đóng gói 1kg/PE bag x 25bags/bao với giá cả từng loại được hai bên thống nhất theo từng đơn hàng hoặc giá bán đã được xác nhận theo từng thời điểm.

Hình thức thanh toán là chuyển khoản, Công ty L cho công ty S gối đầu 01 hoá đơn nhưng không quá 30 ngày (sau khi hai bên đã ký hợp đồng) và không được vượt quá hạn mức 300 triệu cho mỗi hoá đơn phát sinh trong tháng. Bên B có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền theo hoá đơn xuất cho bên A cho đến hạn thanh toán 30 ngày.

Công ty L đã giao đủ số lượng hàng hoá theo đơn đặt hàng, đúng thời hạn, đúng chất lượng, quy cách,.. và Công ty S đã nhận đủ hàng và không có bất kỳ khiếu nại nào về hàng hoá theo hợp đồng mua bán.

Theo biên bản đối chiếu công nợ vào ngày 31/12/2016, Công ty S còn nợ Công ty L số tiền 404.988.500 đồng. Sau nhiều lần hối thúc, thì Công ty S chỉ thanh toán được cho Công ty L số tiền 130.000.000 đồng. Đến ngày 31/12/2019, thì cả hai công ty đối chiếu công nợ thì Công ty S còn nợ Công ty L số tiền 274.988.500 đồng, nhưng qua nhiều tháng, Công ty S vẫn không thanh toán nợ cho công ty L số tiền trên. Do đó, Công ty L khởi kiện buộc Công ty S phải thanh toán số tiền còn nợ gốc là 274.988.500 đồng và tiền lãi ước tính 0,83%/tháng do chậm thanh toán trên khoản nợ gốc từ ngày 01/02/2017 cho đến khi thanh toán dứt điểm toàn bộ số nợ nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Giữa nguyên đơn Công ty L và bị đơn Công ty S có xác lập hợp đồng mua bán hàng hoá, sau khi đối chiếu công nợ Công ty S không thanh toán tiền mua hàng hoá, nên Công ty L khởi kiện buộc Công ty S phải thanh toán số tiền còn nợ cùng tiền lãi phát sinh. Do đó, xác định mối quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá”, cả nguyên đơn và bị đơn đều là pháp nhân có đăng ký kinh doanh và cùng có mục đích phát sinh lợi nhuận, nên quan hệ tranh chấp giữa các đương sự chịu sự điều chỉnh của Luật thương mại. Do bị đơn có trụ sở tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ theo khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ đối bị đơn Công ty S, nhưng Công ty S vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối bị đơn theo qui định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc: Giữa Công ty L và Công ty S có giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá số 02A/LH-SH01/2016 với nội dung Công ty L đồng ý bán và bên B (Công ty S) đồng ý mua phụ gia dùng trong chế biến thuỷ sản. Công ty S đã nhận toàn bộ số hàng hoá do Công ty L cung cấp, nhưng Công ty S thanh toán chưa đủ tiền mua hàng cho Công ty L. Căn cứ vào các hoá đơn giá trị gia tăng và các biên bản đối chiếu công nợ tính đến ngày 31/12/2016 Công ty S còn nợ Công ty L số tiền 404.988.500 đồng và biên bản đối chiếu công nợ tính đến ngày 31/12/2019 Công ty S còn nợ số tiền 274.988.500 đồng. Các biên bản đối chiếu công nợ đều có sự xác nhận của Công ty S. Do đó, Công ty L yêu cầu Công ty S thanh toán số tiền nợ chưa thanh toán là có cơ sở. Nên căn cứ vào Điều 50 của Luật thương mại, Công ty S phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ còn thiếu cho Công ty L.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 273, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Áp dụng: Các Điều 24, 50, 306 Luật thương mại; Án lệ số 09/2016/AL ngày 17/10/2016; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại L.

Buộc Công ty Cổ phần Chế biến Thực phẩm S có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH Đầu tư và Thương mại L số tiền nợ là 393.369.216 đồng (nợ gốc là 274.988.500 đồng, tiền lãi là 118.380.716 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/5/2021) cho đến khi thi hành án xong, Công ty Cổ phần Chế biến Thực phẩm S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán.

Nơi nhận:

- TAND Tp. Cần Thơ;

- VKSND huyện Cờ Đỏ;

- Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ;

- Các đương sự;

- Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Phạm Quốc Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2021/KDTM-ST ngày 27/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá

  • Số bản án: 01/2021/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2021
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger