|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH Số: 01/2021/HNGĐ-ST Ngày: 18/3/2021 "V/v Ly hôn, nuôi con" |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH - TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Văn Anh Trình
- 2. Bà Hoàng Thị Tường Vy
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/2020/TLST-HNGĐ, ngày 24/11/2020 về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04/3/2021; giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Như N; địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện M, tỉnh Q, có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H; địa chỉ: Thôn P, xã G, huyện Q, tỉnh Q, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 10/11/2020, bản tự khai ngày 08/12/2020 cũng như tại phiên toà, nguyên đơn chị Đinh Thị Như N trình bày: Chị và anh H trước đây yêu nhau và kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện M, tỉnh Q vào ngày 05/5/2017. Sau kết hôn, vợ chồng sống chung cùng gia đình mẹ anh tại P xã G, huyện Q, tỉnh Q. Trong quá trình chung sống, do không hợp tính tình nên vợ chồng không được hòa thuận, hạnh phúc mà thường xuyên gây gổ, xúc phạm nhau, không tin tưởng nhau nên chị đưa con bỏ về quê ở xã Y, huyện M, tỉnh Q, vợ chồng sống ly thân kể từ tháng 5 năm 2019 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Hiện tại chị N xác định tình cảm giữa chị và anh H thực sự đã hết và yêu cầu được ly hôn; con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Anh T, sinh ngày 07/5/2017, hiện đang sống cùng chị. Nếu ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc con; về cấp dưỡng chị yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng; tài sản chung: Không có.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa cũng như phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tống đạt hợp lệ. Song qua bản tự khai và đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 22/02/2021, anh H trình bày: Anh đã nhận được các thông báo của Tòa án nhưng vì lý do sức khỏe cũng như công việc nên anh không thể tham gia giải quyết vụ án được và xin Tòa án xét xử vắng mặt anh và không hòa giải vì mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được. Về nội dung, Anh H xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết nên anh nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị N; con chung, anh cũng có nguyện vọng nuôi con nhưng hiện nay con đang còn nhỏ và sống ổn định với chị N nên anh đồng ý giao con cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc; về cấp dưỡng nuôi con anh chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng, vì hiện nay anh thu nhập không ổn định cũng chưa có việc làm; tài sản chung: Không có.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, kết quả hỏi và tranh luận tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Như N và anh Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn với nhau ngày 05/5/2017 tại UBND xã Y, huyện M, tỉnh Q là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng gia đình mẹ anh H, vợ chồng bắt đầu sống chung đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra bất hòa, không có niềm tin đối với nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày một phai nhạt, mất mát nên chị N đã đưa con về quê; vợ chồng ly thân nhau từ tháng 5 năm 2019 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Anh H đã được Tòa án thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, kể cả giấy triệu tập phiên tòa được tống đạt hợp lệ nhưng anh H vẫn không có mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị N, vì tình cảm vợ chồng đã hết anh không yêu cầu tòa án hòa giải. Qua đó, chứng tỏ anh H không muốn vợ chồng trở lại đoàn tụ. Chị N cũng xác định tình cảm vợ chồng thực sự đã hết và yêu cầu được ly hôn anh H.
Xét thấy, tình trạng vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần xử cho hai bên ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung: Chị N, anh H có một con chung: Chị N có yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Anh H cũng có nguyện vọng nuôi con nhưng hiện nay con đang còn nhỏ và sống ổn định với chị N nên anh đồng ý giao con cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng chăm sóc; về cấp dưỡng nuôi con anh chỉ đồng ý, chỉ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 500.000 đồng, vì hiện nay anh thu nhập không ổn định cũng chưa có việc làm. Việc anh chị có nguyện vọng nuôi con là chính đáng, nhưng hiện nay con đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, tuy nhiên việc cấp dưỡng hàng tháng anh, chị không thống nhất nên Hội đồng xét xử cần xử giao con cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, buộc anh H cấp dưỡng nuôi con hàng tháng một số tiền phù hợp với thu nhập của anh và nhu cầu của con là phù hợp với các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3]. Tài sản chung: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4]. Về án phí: Các bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử cho chị Đinh Thị Như N và anh Nguyễn Văn H được ly hôn.
2. Về con chung: Áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Xử giao cho chị Đinh Thị Như N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Nguyễn Anh T, sinh ngày 07/5/2017. Buộc anh Nguyễn Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) kể từ tháng 4 năm 2021 cho đến khi con tròn 18 tuổi. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Đinh Thị Như N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số: AA/2017/0007113, ngày 24/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh. Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, chị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 18/3/2021, Anh H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Châu |
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | ||||||||
|
Bản án số 01/2021/HNGĐ-ST ngày 18/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình về ly hôn và nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 01/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: án ly hôn
