Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 01/2021/HNGĐ-PT
Ngày 22-01-2021
V/v tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
__________________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường, Ông Nguyễn Hồng Thái

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hoàng Huy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Phương Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2020/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 72/2020/HNGĐ-ST ngày 04/9/2020 của Toà án nhân dân thành phố P bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2020/QĐ-PT ngày 10 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1959. Địa chỉ: 07 TAT, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • - Bị đơn: Ông Tô Văn L, sinh năm 1956. Địa chỉ: 07 TAT, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn Ông Tô Văn L.

Các đương sự có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/9/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là Bà Nguyễn Thị V trình bày: Bà Nguyễn Thị V và Ông Tô Văn L đăng ký kết hôn vào năm 1996 tại UBND phường Đ, thành phố P. Đến năm 2019, bà V và ông L thuận tình ly hôn theo Quyết định số 333/2019/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố P.

Khi giải quyết ly hôn, bà V và ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Tuy nhiên sau đó bà V và ông L không tự thỏa thuận được về việc chia tài sản chung, nên nay bà V khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Tài sản chung của bà V và ông L mà bà V yêu cầu chia là phần xây dựng của căn nhà số 07 TAT, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nhà gồm 3 tầng, xây trên diện tích đất là 19,87m2, tổng diện tích sử dụng là 69,3m2. Đồng thời với việc yêu cầu chia phần giá trị xây dựng của căn nhà, bà V yêu cầu Tòa án công nhận phần đất là thuộc quyền sử dụng của bà, vì đất này bà đã mua riêng vào năm 1992 từ trước khi sống chung với ông L. Bà yêu cầu được nhận nhà và trả ½ giá trị phần xây dựng của căn nhà cho ông L.

Bị đơn là Ông Tô Văn L trình bày:

Ông L khai thống nhất với bà V về quan hệ hôn nhân của ông bà, ông bà đã đăng ký kết hôn năm 1996 và đã ly hôn năm 2019, chưa giải quyết về tài sản. Về yêu cầu chia tài sản của bà V, ông L đồng ý chia, ông thừa nhận phần diện tích đất 19,87m2 bà V đã mua trước khi hai người sống chung, còn phần xây dựng căn nhà là do hai vợ chồng xây năm 2002, nhưng cho rằng vợ chồng đã sống chung với nhau nhiều năm, nên nhà đất là của chung vợ chồng, ông yêu cầu chia cả nhà và đất.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 72/2020/HNGĐ-ST ngày 04/9/2020 của Toà án nhân dân thành phố P, quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Nguyễn Thị V. Công nhận phần diện tích đất 19,87m2 là tài sản riêng của Bà Nguyễn Thị V. Chia giá trị xây dựng căn nhà cho mỗi người hưởng 1/2.

Ngày 17/9/2020, bị đơn Ông Tô Văn L kháng cáo yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm, xác định đất và nhà tại số 7 TAT là tài sản chung của 02 vợ chồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ và kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định: Mặc dù nguồn gốc đất là do bà V mua riêng trước khi kết hôn, nhưng vào năm 2002, khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, bà V đã tự nguyện ghi tên cả bà V và ông L vào đơn đăng ký. Giấy chứng nhận số 460101 ngày 17/01/2003 do UBND tỉnh Bình Thuận cấp cũng ghi tên cả hai người. Theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình, đây được coi là việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Do đó, nhà và đất tại số 07 TAT là tài sản chung của vợ chồng.

Tuy nhiên, xét về công sức đóng góp, bà V là người tạo lập quyền sử dụng đất trước khi kết hôn nên cần chia cho bà V phần giá trị đất nhiều hơn. Hội đồng xét xử quyết định chia giá trị quyền sử dụng đất theo tỷ lệ bà V hưởng 2/3, ông L hưởng 1/3. Riêng giá trị xây dựng căn nhà chia đôi mỗi người 1/2.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Ông Tô Văn L. Sửa bản án sơ thẩm số 72/2020/HNGĐ-ST.

  1. Công nhận phần diện tích đất 19,87m2 và căn nhà tại số 07 TAT, phường Đ, thành phố P là tài sản chung của Bà Nguyễn Thị V và Ông Tô Văn L.
  2. Chia tài sản chung: Giao cho bà Nguyễn Thị V được quyền sở hữu nhà và sử dụng đất. Bà V có trách nhiệm hoàn trả giá trị bằng tiền cho ông Tô Văn L tổng cộng là 627.565.947 đồng (bao gồm 1/2 giá trị nhà và 1/3 giá trị đất).
  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị V và Ông Tô Văn L được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm do là người cao tuổi.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (22/01/2021).

Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Thuận;
- TAND TP P;
- Chi cục THADS TP P;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA


(đã ký)


Lê Thị Thanh Thái
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 01/2021/HNGĐ-PT ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận về tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn

  • Số bản án: 01/2021/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/01/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp chia tài sản chung sau ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger