|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU Bản án số: 01 /2021/HNGĐ Ngày: 02/7/2021 V/v tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Bính
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Hoàng Văn Thắng
- Ông: Lò Minh Hiếu.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Út - Thư ký Tòa án, TAND tỉnh Lai Châu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Hà - Kiểm sát viên
Ngày 02 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 01/2021/TLST- HNGĐ, ngày 28 tháng 01 năm 2021 về tranh chấp Hôn nhân gia đình về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXX-ST ngày 26 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
- 1. Nguyên đơn: Bà Ma Thị D, sinh năm 1968 – Có mặt
Nơi cư trú: Bản Ph L Ch, xã T L, huyện T Đ, tỉnh L C. - 2. Bị đơn: Ông Vàng A Ch, sinh năm 1969 – Có mặt
Nơi cư trú: Bản Ph L Ch, xã T L, huyện T Đ, tỉnh L Ch. - 3. Người phiên dịch: Ông Lầu A Phía, sinh năm 1983 – Có mặt
Nơi công tác: Phòng biên tập – Đài truyền hình tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2020, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn bà Ma Thị D trình bày:
- Về hôn nhân: Bà Ma Thị D và ông Vàng A Ch chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1985, không có đăng ký kết hôn, chỉ tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, chung sống trên cơ sở tự nguyện. Thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc, cho đến năm 2008, ông Ch đi chấp hành án, tháng 4/2020 ông Ch về địa phương. Kể từ đó, cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau và không hòa hợp. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không còn đạt được nên bà D xin ly hôn với ông Ch.
- Về con chung: Ông bà có 05 người con chung là Vàng Thị Ch, sinh năm 1988; Vàng A Ch, sinh năm 1991; Vàng A L, sinh năm 1993; Vàng A V, sinh năm 1994 và Vàng Thị Thùy L, sinh ngày 01/3/2005. Nay các con Vàng Thị Ch, Vàng A Ch, Vàng A L, Vàng A V đã trưởng thành, khỏe mạnh bình thường, nên bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Vàng Thị Thùy L chưa đủ 18 tuổi, đang ở với gia đình chị gái Vàng Thị Ch, theo nguyện vọng của cháu Linh được ở cùng gia đình chị gái nên bà D không có ý kiến gì và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: bà D xin rút yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung và nợ chung. Bà D và ông Ch tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa bị đơn ông Vàng A Ch trình bày: Ông và bà D chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 tết âm lịch, không có đăng ký kết hôn, chỉ tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương (tục bắt vợ), chung sống trên cơ sở tự nguyện. Năm 2008, ông đi chấp hành án, đến tháng 04/2020 thì ông trở về địa phương. Từ khi trở về, ông và bà D có nhiều mâu thuẫn, nay bà D xin ly hôn ông đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Ông bà có 05 người con chung như bà D trình bày, 04 người con đầu đều đã trưởng thành, khỏe mạnh bình thường, nên ông Ch không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Vàng Thị Thùy L, sinh năm 2005 chưa đủ 18 tuổi, từ khi còn nhỏ đến nay sinh sống chung với gia đình chị gái Vàng Thị Ch, theo nguyện vọng của cháu L được ở cùng gia đình chị gái nên ông Ch không có ý kiến gì. Tuy nhiên, trước khi xét xử cũng như tại phiên tòa hôm nay ông và bà D đã thống nhất giao cháu L cho bà D chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con ông Ch và bà D tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung, chia nợ chung và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do đó, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Việc chung sống với nhau như vợ chồng sau ngày 03/01/1987 mà không đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ hướng dẫn tại khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì hôn nhân không hợp pháp và không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Chấp nhận yêu cầu của bà D, không công nhận ông Vàng A Ch và bà Ma Thị D là vợ chồng.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ma Thị D.
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Ma Thị D và ông Vàng A Ch là vợ chồng.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc nuôi con chung, tài sản chung và nợ chung.
3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các đương sự.
|
Nơi nhận: - VKS tỉnh Lai Châu; - Các đương sự; - TAND cấp cao tại Hà Nội; - Lưu hs. |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Ngọc Bính |
Bản án số 01/2021/HNGĐ ngày 02/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu về tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn
- Số bản án: 01/2021/HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
