Dịch vụ doanh nghiệp online toàn quốc

Xử lý trường hợp bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của đồng nghiệp

Ngày gửi: 07/08/2015 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL41640

Câu hỏi:

Tôi làm việc tại Ủy ban nhân dân xã. Sau khi tôi có sự thay đổi về công việc. Một đồng nghiệp đã ghanh ghét đi bịa đặt nói xấu tôi đủ điều ngay cả trong cơ quan và những người chị ấy quen biết. Cao điểm nhất là cách đây một tuần khi tôi đi thăm sinh một đồng nghiệp và hỏi về một số công việc mà đồng nghiệp chưa kịp bàn giao. Nhưng người đồng nghiệp đó cũng là người hòa cùng chị ấy để bôi nhọ tôi. Sau khi tôi bước ra khỏi bệnh viện thì chị ấy đang ở cơ quan la lối rất to nói rằng tôi là người tham tiền, người ta đang sinh mà vô cái cọ làm nổi sóng hậu chết. Chị ấy nói cùng cơ quan và khi người dân vào làm hồ sơ chị ấy cứ nói to lên. Chị là người rất lợi khẩu nói ra ai cũng tin. Tôi rất buồn. Mong luật sư tư vấn giúp tôi phải làm thế nào?

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật hình sự 1999 

Nghị định 167/2013/NĐ-CP

2. Nội dung tư vấn

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 144/2016/QH13, lùi hiệu lực thi hành Bộ luật hình sự 2015, nay vẫn áp dụng quy định tại Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009.

"1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo quy định trên, một hành vi sẽ bị coi là phạm tội vu khống khi có một trong các biểu hiện sau đây:

– Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

– Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

Lưu ý đối với cả hai trường hợp trên, nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

– Bịa đặt người khác là phạm tội và tố cáo họ trước các cơ quan có thẩm quyền. 

Nếu không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự tội vu khống người khác, người có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín đối với bạn sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a) khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;"

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam