Xử lý hành vi tự ý chặt cây của người dân đem bán

Ngày gửi: 20/08/2020 lúc 09:48:13

Mã số câu hỏi: HC83

Câu hỏi:

Chào luật sư. Nhà cháu có mượn mảnh đất của thủy điện gần nhà để cấy cây. Nhưng gần đây có một nhân viên ở thủy điện tự ý chặt cây đem bán mà không hề nói với gia đình cháu. Luật sư cho cho cháu hỏi việc này sẽ phải xử lí như thế nào?

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Nếu việc mượn đất của thủy điện là hợp pháp thì toàn bộ cây cối trên đất này thuộc quyền sở của gia đình bạn. Nếu bên phía thủy điện muốn lấy lại phần đất này phải thông báo cho gia đình một khoảng thời gian hợp lý. Việc nhân viên thủy điện tự ý chặt cây đem bán không báo cho gia đình bạn là hành vi vi phạm pháp luật.

Căn cứ Điều 604 Bộ luật dân sự 2005 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

"1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó."

Như vậy, gia đình bạn có quyền yêu cầu nhân viên thủy điện bồi thường thiệt hại cho gia đình bạn, để đảm bảo quyền lợi gia đình bạn có quyền làm đơn tố cáo gửi tới cơ quan công an nhân dân cấp xã nơi thủy điện có trụ sở để yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Với hành vi tự ý chặt cây của gia đình bạn tự mang đi bán, người nhân viên thủy điện này sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điểm a) Khoản 2 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP:

"2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác;"

Trường hợp tài sản mà người này xâm hại có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc thuộc một trong những trường hợp sau thì có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 143 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009:

"1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Để che giấu tội phạm khác;

đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;

e) Tái phạm nguy hiểm;

g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam