Tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hành chính

Ngày gửi: 04/08/2020 lúc 11:31:12

Mã số câu hỏi: HTPL41984

Câu hỏi:

Khoảng 19 giờ ngày 07/3/2019, Nguyễn Văn C (SN 1980) cùng Đinh Văn X và một số người khác ngồi uống rượu tại nhà chị Trần Thị H. Trong lúc uống rượu, C và X xảy ra xô xát. X tức giận đánh 02 cái vào mặt C. Sau đó C và mọi người ra về còn X ngủ lại tại nhà H. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, C quay lại nhà H để yêu cầu X phải xin lỗi. Khi đến nhà H, C gọi cửa nhưng H không mở, C liền nhặt 01 đoạn gậy tre dài 70cm, đường kính 04cm rồi đạp cửa xông vào nhà. Thấy X đang nằm ngủ trên giường, C dùng gậy đánh vào đầu X, X vùng dậy chạy nhưng C vẫn  đuổi theo, tiếp tục dùng gậy đánh vào đầu và người X gây thương tích 8%. Ngày 17/4/2019, X làm đơn yêu cầu khởi tố C về việc đã đánh mình gây thương tích. C bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015. Giả sử C là người chưa thành niên thì C có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã thực hiện không?

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định mức cao nhất của khung hình phạt là ba năm tù, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự 2015 thì hành vi của phạm tội của C thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng.

Ở tình huống giả định C là người chưa thành niên.

+ Căn cứ vào khoản 1 Điều 21 Bộ luật dân sự 2015: “1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.”.

+ Theo Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”

Như vậy ta có 2 trường hợp:

– Nếu tại thời điểm phạm tội C dưới 16 tuổi: C không phải chịu trách nhiệm hình sự

– Nếu tại thời điểm phạm tội C từ đủ 16 tuổi: C phải chịu trách nhiệm hình sự.

5. Tuổi phải chịu trách nhiêm hình sự đối với tội xâm phạm sở hữu

Luật hình sự mỗi nước khác nhau lại có quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự khác nhau nó hoàn toàn tuỳ thuộc vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và sự phát triển về sinh học của con người ở mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”.

Vấn đề đặt ra là người chưa đủ 14 tuổi lại không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ gây ra? Khoa học luật hình sự xác định tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự chủ yếu dựa vào tiêu chuẩn về sự phát triển tâm sinh lý của con người, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến sự phát triển về quá trình nhận thức của con người và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm.

Người chưa đủ 14 tuổi, trí tuệ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, chưa đủ khả năng tự chủ khi hành động nên họ không bị coi là có lỗi về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện. Hành vi được coi là không có lỗi là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được coi là người chưa có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ. Do đó, họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm theo quy định của pháp luật chứ không chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các tội phạm. Theo luật khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật hình sự 2015.

Trường hợp chưa đủ 18 tuổi khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì khi điều tra, truy tố và xét xử, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định rõ tuổi của họ. Cách tính đủ tuổi là tính theo tuổi tròn. Ví dụ: Sinh ngày 01/01/1980 thì ngày 01/01/1994 mới đủ 14 tuổi và ngày 01/01/1996 mới đủ 16 tuổi. Trong trường hợp không có điều kiện xác định chính xác ngày sinh thì tính ngày sinh theo ngày cuối cùng của tháng sinh. Ví dụ: Chỉ biết tháng sinh của người phạm tội là tháng 4/1981 mà không biết ngày nào thì lấy ngày 30/4/1981 là ngày sinh của họ. Trường hợp cũng không có điều kiện xác định chính xác tháng sinh thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng năm sinh là ngày sinh của người phạm tội. Ví dụ: Chỉ biết năm sinh của người phạm tội là năm 1983 thì ngày sinh của người phạm tội là ngày 31/12/1983. Các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử phải tiến hành hết các biện pháp xác minh mà không thể chứng minh được ngày tháng năm sinh thì mới lấy ngày cuối cùng trong tháng hoặc tháng cuối cùng trong năm làm ngày sinh của người phạm tội. Trong hồ sơ vụ án nhất thiết phải có bản sao giấy khai sinh (nếu là trường hợp có giấy khai sinh), nếu là trường hợp không có giấy khai sinh các biên bản xác minh thì phải có xác nhận của các cơ quan có thẩm quyền. Nếu có nhiều tài liệu phản ánh tuổi của người phạm tội khác nhau thì việc xác định tuổi của người phạm tội theo hướng có lợi cho họ.

6. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trộm cắp tài sản

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam