Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trộm cắp điện thoại mang đi cầm đồ

Ngày gửi: 07/08/2015 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL41259

Câu hỏi:

Em tôi có lấy một điện thoại cúa bạn tri giá khoang 20 triệu đem đi cầm 2trieu bị công an bắt nay bi truy tố ,vậy em tôi sẽ bị kêt án không .em tôi chưa phạm tội lần nào , người bị hại đã nhận lại điện thoại và đã viết đơn bãi nại?

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009

Bộ luật tố tụng hình sự 2003

2. Nội dung tư vấn

Tại Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định Tội trộm cắp tài sản như sau:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b)  Có tính chất chuyên nghiệp;

c)  Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng

g) Gây hậu quả nghiêm trọng

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Hây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”.

Theo như thông tin chị cho biết, em chị có lấy một chiếc điện thoại của bạn trị giá khoảng 20 triệu đem đi cầm đồ. Như vậy, căn cứ vào quy định trên, hành vi của em chị sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009.

>>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài: 024.6294.9155

Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì chỉ những tội sau khi có đơn rút yêu cầu khởi tố trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án sẽ bị đình chỉ:

– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 – Điều 104 – Bộ luật Hình sự).

– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Khoản 1 – Điều 105 – Bộ luật Hình sự).

– Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Khoản 1 – Điều 106 – Bộ luật Hình sự).

–  Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1 – Điều 108 – Bộ luật Hình sự).

– Tội hiếp dâm (Khoản 1 – Điều 111 – Bộ luật Hình sự).

– Tội cưỡng dâm (Khoản 1 – Điều 113 – Bộ luật Hình sự).

– Tội làm nhục người khác (Khoản 1 – Điều 121 – Bộ luật Hình sự).

– Tội vu khống (Khoản 1 – Điều 122 – Bộ luật Hình sự).

– Tội xâm phạm quyền tác giả (Khoản 1 – Điều 131 – Bộ luật Hình sự).

– Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Khoản 1 – Điều 171 – Bộ luật Hình sự).

Như vậy, đối với tội trộm cắp tài sản không là một trong những tội sẽ bị đình chỉ khi có đơn bãi nại của người bị hại, chỉ cần hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, trong trường hợp này, em chị đã có hành vi lấy điện thoại của bạn trị giá 20 triệu đồng vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự mặc dù đã có đơn bãi nại của người bị hại và khắc phục hậu quả gây ra.

Tội cướp tài sản thuộc loại tội rất nghiêm trọng

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam