Dịch vụ doanh nghiệp online toàn quốc

Tố cáo hành vi bịa đặt thông tin xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác

Ngày gửi: 07/08/2015 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL40919

Câu hỏi:

Cuối năm 2014 em quen với 1 người con trai đến tháng 11 năm 2015 thì chia tay vì thấy không hợp nhau nữa. Sau khi chia tay người này đòi quay lại thì em không đồng ý, người này tìm và đánh em, lấy đi điện thoại và xe máy của em nhưng sau đó được công an lấy lại. Sau đó hắn lấy số điện thoại bố mẹ em, nhắn tin và gọi điện liên tục vào lúc nửa đêm, có hôm gọi hơn 60 cuộc nhưng bố mẹ em không nghe máy, hắn nhắn tin đe dọa bố mẹ em. Khoảng đầu tháng 5 năm 2016 thì người này đến nơi em trọ đòi em quay lại với hắn nhưng em không đồng ý và hắn đánh em nhưng những người trong chỗ trọ can lại nên chỉ tổn thương nhẹ, hắn lập nick facebook kết bạn với tất cả bạn bè và những người ở quê em, đăng tin bôi nhọ danh dự em nhiều lần với cùng một nội dung (nội dung hắn tự bịa đặt như chuyện em có thai với hắn, phải đi phá thai, rồi em vứt thai xuống cầu, hắn tải hình chụp siêu âm trên mạng về rồi đăng lên nói đó là thai của em). Đe dọa đòi em phải ra gặp mặt hắn, nếu không thì hắn sẽ tiếp tục làm những hành động trên và nhiều hơn nữa. Em đã rất đau khổ, bạn bè và những người ở quê gọi điện hỏi liên tục những chuyện mà hắn đăng trên facebook. em bị áp lực từ nhiều phía, gia đình và nhà trường, em chỉ muốn trốn đi. Em không dám đối mặt với những người xung quanh. Những nội dung tin nhắn làm em sợ và ghê tởm nên em đã xóa hết, Nhưng chuyện đó người thân ở quê em đều có thể làm chứng. Em muốn hỏi luật sư em có thể kiện người này hay không và nếu kiện được thì em phải kiện như thế nào? 

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

1. Căn cứ pháp lý

– Bộ luật Hình sự 1999

– Nghị định 167/2013/NĐ-CP

2. Nội dung tư vấn

Căn cứ Điều 122 Bộ luật Hình sự 1999 quy định Tội vu khống như sau:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Các dấu hiệu cấu thành Tội vu khống gồm:

– Khách thể: là quan hệ nhân thân, cụ thể là quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của con người.

– Mặt khách quan:

+ Hành vi bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Đây là hành vi cố tình đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm bồi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác.

>>> Luật sư tư vấn tội vu khống qua tổng đài: 024.6294.9155        

+ Hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.

+ Hoặc có thể là hành vi bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thảm quyền.

– Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp.

– Chủ thể: là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 1999, cụ thể đối với Tội vu khống là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn trai cũ của bạn có hành vi lập tài khoản trên facebook, bôi nhọ danh dự của bạn với nội dung do người đó tự bịa đặt, làm cho bạn không dám đối mặt với những người xung quanh, gây ảnh hưởng đến cuộc sống của bạn. Trong trường hợp này, hành vi đó có thể cấu thành Tội vu khống. Bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an cấp huyện nơi người yêu cũ của bạn đang cư trú để yêu cầu xử lý hành vi trên.

Nếu chưa đủ yếu tố cấu thành Tội vu khống thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

“Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; […]”.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam