Tiêu thụ tài sản trộm cắp mà không biết có thì bị xử lý như thế nào?

Ngày gửi: 31/03/2019 lúc 11:31:12

Mã số câu hỏi: HTPL41173

Câu hỏi:

Vào khoảng buổi tối cách đây hơn 1 tuần em và một người anh trai hai anh em đang ngồi chơi thì có một người bạn đi tới gặp em. Vốn dĩ em biết ngưười này qua một người bạn của em sau khi em đang nói chuyện em có nói em đang kẹt tiền và người này có nói mình cũng đang đi cắm xe và nói mình không có chứng minh nhân dân nên không cắm được và có nhờ em đi cắm dùm chiếc xe rồi nói nếu cắm được cho em mượn một ít tiền. Em có hỏi mà xe này xe của ai thì người này có nói xe của chị mình đứng tên chị gái của người đó có mỗi cà vẹt xe và không có chứng minh thư nên em giúp người bạn này sau khi em đi cầm cùng người bạn này với số tiền 7.000.000vnd (7triệu đồng) lúc đi về người này có đưa cho em mượn 500.000vnd (500nghàn đồng) em có hỏi khi nào bạn lấy xe để mình còn lấy chứng minh thì người này có nói vài hôm nữa mình lấy. Sau đó thì có nói đi ra ngoài một lát rồi về nhưng sau đó đi không thấy về và theo em tìm hiểu một số bạn bè thì có biết người này đã thực hiện nhiều vụ việc như trên .nhưng chính xác hơn em không biết chiếc xe có phải xe ăn trộm hay không nhưng khi cầm chiếc xe em có viết bản cam kết xe của chị tên gì đó … và nói đây là xe của chị họ chứ không phải xe ăn trộm có gì em xin chịu trách nhiệm trước pháp luật … nếu chiếc xe đó là xe ăn trộm thì em có liên quan tới pháp luật và cơ quan công an không ạ.

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

1. Căn cứ pháp lý

Bộ luật Hình sự 1999

Thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC

Bộ luật Dân sự 2005

2. Nội dung tư vấn

Căn cứ theo Điều 250 Bộ luật Hình sự 1999:

Điều 250. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm .

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến  bảy năm:

a) Có tổ chức;

b)  Có tính chất chuyên nghiệp ;

c) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn;

d)  Thu lợi bất chính lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ  năm năm đến mười năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị rất lớn;

b) Thu lợi bất chính rất lớn.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị đặc biệt lớn;

b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

>>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài: 024.6294.9155

Theo quy định tại Thông tư liên tịch 09/2011/TTLT-BCA-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC, “Biết rõ tài sản là do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ chứng minh biết được tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có được trực tiếp từ người thực hiện hành vi phạm tội.

Về mặt chủ quan của tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội phải biết rõ tìa sản mà mình tiêu thụ là tài sản do phạm tội mà có nhưng không có hứa hẹn,bàn bạc hoặc thỏa thuận trước với người có tài sản do phạm tội mà có.

Như vậy, nếu bạn biết rõ đó là tài sản do phạm tội mà có mà vẫn mang đi cầm cố, việc cầm cố này không có sự hứa hẹn trước thì hành vi của bạn đa phạm vào tội chứa chấp haowjc tiêu thụ tài sản của người khác phạm tội mà có theo quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự 1999.

Trong trường hợp bạn không hề biết được đó là tài sản do phạm tội có được thì việc tiêu thụ chỉ là một giao dịch dân sự thông thường, sau khi biết tài sản đó là tài sản phạm tội có được thì giao dịch dân sự này sẽ bị vô hiệu và các bên có nghĩa vụ trả lại cho nhau những gì đã nhận (Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005).

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam