Người nhận góp vốn không thanh toán lợi nhuận cho người góp vốn

Ngày gửi: 07/08/2015 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL40936

Câu hỏi:

Kính chào Luật sư! Tôi là Trần Minh Tuấn, hiện công tác ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Tôi có một sự việc rất mong được luật sư giúp đỡ. Vào ngày 15/11/2015, tôi nghe lời rủ rê góp vốn làm ăn từ một người bạn, với số tiền tôi bỏ ra là 20.000.000 đồng. Hai bên có viết giấy tay thỏa thuận nhưng không có chữ ký của chính quyền. Theo lời hứa hẹn từ phía người bạn đó thì 6 tháng đầu tôi được trả lãi 300.000 đồng/tháng, 6 tháng còn lại tôi được trả lãi 600.000 đồng/tháng và sau một năm tôi được rút lại 20.000.000 đồng đó. Người đó có trả lãi cho tôi được hai tháng đầu, nhưng từ đó đến nay thì không thấy trả như cam kết, ngược lại còn hẹn khất rất nhiều lần, đến kỳ hạn tôi gọi điện thì không nghe máy, tôi muốn đối chiếu kiểm tra chứng minh nhân dân thì không cho. Qua những hành động trên, tôi nghi ngờ đây là hành vi chiếm đoạt tài sản cá nhân. Vậy tôi xin phép được hỏi luật sư là: 1. Về vấn đề này tôi có đủ cơ sở để kiện ra tòa hay không? Tôi có lưu tin nhắn trao đổi qua lại trong điện thoại vậy tôi có dùng làm chứng cứ được hay không? 2. Tôi cần làm những thủ tục gì để khởi kiện và tôi cần khởi kiện ở đâu? Rất mong được luật sư tư vấn. Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư! Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam. Với thắc mắc của bạn, Công ty Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau: 1. Cơ sở pháp lý: – Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009; – Xem thêm: Thời hạn góp vốn điều lệ công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn 2.

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

– Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009;

– 

Đối với trường hợp của bạn, bạn có hợp đồng góp vốn với bạn của bạn, hai bên có nghĩa vụ thực hiện theo sự thỏa thuận trong hợp đồng góp vốn. Nếu nay người bạn của bạn  không thực hiện theo sự thỏa thuận, có hành vi chiếm đoạt tài sản của bạn thì bạn nên có đơn tố cáo gửi trực tiếp tới Công anh nhân dân cấp huyện nơi người bạn của bạn đang cư trú để giải quyết trong trường hợp này.

Trong trường hợp người bạn của bạn có dấu hiệu lẩn tránh không muốn trả tiền lại cho bạn thì tùy thuộc vào ý định chiếm đoạt của người đó xuất hiện khi nào mà bạn có quyền tố cáo họ ra cơ quan công an về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 hay Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009. 

Trường hợp 1: Người này có ý định chiếm đoạt tài sản ngay từ ban đầu, người này sẽ phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trường hợp 2: Sau khi ký kết hợp đồng góp vốn người này mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hính sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009:

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

 b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Nếu không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự thì bạn làm hồ sơ khởi kiện tới Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người này đang cư trú để giải quyết:

+ Đơn khởi kiện;

+ Các tài liệu liên quan đến vụ kiện (hồ sơ nhà, đất, hợp đồng, giấy vay nợ…);

+ Chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có chứng thực) nếu là cá nhân;

+ Hồ sơ pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp (bản sao có chứng thực) nếu là pháp nhân.

+ Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao). 

– Thời gian giải quyết vụ án dân sự:

+ Thời hạn chuẩn bị xét xử: Từ 4 đến 6 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Góp vốn kinh doanh bằng giá trị giấy nhận nợ có hợp pháp không?

+ Thời hạn mở phiên tòa: Từ 1 đến 2 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam