Nghị định 31-CP được ban hành năm 1997 bởi Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế quản chế hành chính, nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý chặt chẽ về trình tự, thủ tục lập hồ sơ, thẩm quyền quyết định, chế độ quản lý và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thi hành biện pháp quản chế hành chính đối với các đối tượng vi phạm pháp luật.
Biện pháp quản chế hành chính được áp dụng đối với các cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đòi hỏi phải có sự giám sát, giáo dục chặt chẽ từ chính quyền địa phương và cơ quan công an. Quy chế này áp dụng trực tiếp đối với người bị quản chế, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp, cơ quan công an và các tổ chức chính trị - xã hội liên quan.
Trình tự, thủ tục lập hồ sơ và quyết định quản chế hành chính
- Thẩm quyền lập hồ sơ: Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm lập hồ sơ đối với người cần áp dụng biện pháp quản chế hành chính để trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định. Cơ quan công an cấp huyện và UBND cấp xã nơi người đó cư trú có trách nhiệm phối hợp, thu thập tài liệu và hỗ trợ lập hồ sơ.
- Thành phần hồ sơ đề nghị: Hồ sơ phải đảm bảo đầy đủ các văn bản pháp lý bao gồm: tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị; tài liệu chứng minh các hành vi vi phạm pháp luật; ý kiến bằng văn bản của UBND cấp xã nơi cư trú; ý kiến của Mặt trận Tổ quốc cấp huyện; nhận xét chuyên môn của cơ quan công an cấp huyện; và văn bản đề nghị chính thức của Chủ tịch UBND cấp huyện.
- Thời hạn giải quyết tại cấp huyện: Trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ từ cơ quan công an cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp huyện phải hoàn thành việc xem xét và trình văn bản đề nghị lên Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
- Hội đồng tư vấn cấp tỉnh: Chủ tịch UBND cấp tỉnh thành lập Hội đồng tư vấn gồm đại diện lãnh đạo Công an cấp tỉnh (làm Thường trực Hội đồng), Sở Tư pháp và Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh. Thường trực Hội đồng có trách nhiệm chuẩn bị tài liệu, chủ trì cuộc họp và lập biên bản trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
- Xét duyệt hồ sơ: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Hội đồng tư vấn phải họp xét duyệt. Cuộc họp hoạt động theo nguyên tắc tập thể, bắt buộc phải có sự tham dự và ghi nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trong biên bản. Trường hợp cần thiết, cuộc họp có thể hoãn để xác minh thêm thông tin.
- Ban hành quyết định: Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét và ra quyết định quản chế hành chính trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Hội đồng tư vấn. Quyết định phải ghi rõ các thông tin nhân thân, lý do, căn cứ pháp lý, thời hạn, nơi thi hành và quyền khiếu nại của người bị quản chế.
- Gửi quyết định: Trong vòng 3 ngày kể từ ngày ký, quyết định phải được gửi đến người bị quản chế, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, UBND và Công an cấp huyện, cùng UBND cấp xã nơi người đó cư trú và nơi thi hành quyết định.
Chế độ giảm thời hạn quản chế hành chính
- Điều kiện xét giảm: Người bị quản chế đã chấp hành được ít nhất một nửa thời hạn quản chế và đáp ứng một trong hai điều kiện: có tiến bộ rõ rệt (thành thật hối lỗi, tích cực lao động, học tập, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật) hoặc lập công (tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người khác, giúp công an điều tra tội phạm, có sáng kiến sản xuất, cứu người hoặc tài sản trong tình huống thiên tai, hỏa hoạn).
- Mức giảm thời hạn: Thời hạn được giảm tối đa không quá 1/3 tổng thời hạn quản chế hành chính đã quyết định.
- Thủ tục xét giảm: Cơ quan công an cấp huyện và Chủ tịch UBND cấp xã nơi thi hành quyết định có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị gửi Chủ tịch UBND cấp huyện. Giám đốc Công an cấp tỉnh hỗ trợ Chủ tịch UBND cấp tỉnh thẩm định trước khi ra quyết định giảm thời hạn chính thức.
Nghĩa vụ và quyền lợi của người bị quản chế hành chính
- Trình diện ban đầu: Trong vòng 5 ngày kể từ ngày nhận quyết định, người bị quản chế phải đến trình diện tại UBND cấp xã nơi thi hành quyết định. Thời hạn quản chế bắt đầu tính từ ngày trình diện này. Nếu không trình diện đúng hạn mà không có lý do chính đáng, UBND cấp xã sẽ triệu tập để lập biên bản và buộc thi hành.
- Chế độ cư trú và đi lại: Người bị quản chế phải cư trú và làm việc tại địa phương nơi thi hành quyết định, chịu sự quản lý của chính quyền và nhân dân. Trường hợp muốn đi khỏi phạm vi xã, phường, thị trấn phải xin phép và được cấp giấy phép theo thẩm quyền: đi trong huyện do UBND xã cấp; đi trong tỉnh do UBND huyện cấp; đi ngoài tỉnh do UBND tỉnh cấp.
- Giới hạn thời gian đi lại: Mỗi lần đi ra ngoài không quá 5 ngày và tổng số ngày đi không được vượt quá 1/15 tổng thời hạn quản chế. Nếu đi học tập, lao động hàng ngày ở nơi khác, UBND có thể cấp phép theo tháng. Mọi trường hợp đi lại không có giấy phép sẽ không được tính thời gian đó vào thời hạn chấp hành quyết định quản chế.
- Báo cáo định kỳ: Mỗi tháng một lần, người bị quản chế phải trực tiếp đến trình diện và báo cáo tình hình chấp hành tại UBND cấp xã. Họ cũng phải có mặt ngay khi UBND cấp xã yêu cầu triệu tập.
- Hạn chế quyền công dân: Trong thời gian chấp hành, người bị quản chế không được đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng; đồng thời không được hành nghề kinh doanh đặc biệt hoặc các nghề nghiệp dễ tạo điều kiện vi phạm pháp luật.
- Quyền khiếu nại, tố cáo: Người bị quản chế có quyền khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan hoặc cá nhân thi hành quyết định quản chế theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
- Xử lý vi phạm: Nếu người bị quản chế vi phạm quy chế hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác thì tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong thi hành quản chế
- Ủy ban nhân dân cấp xã: Chịu trách nhiệm trực tiếp trong việc quản lý, giáo dục, tạo điều kiện cho người bị quản chế làm ăn sinh sống; định kỳ 3 tháng một lần báo cáo UBND cấp huyện. Công an cấp xã có vai trò lập hồ sơ theo dõi và phối hợp với gia đình, đoàn thể địa phương. Khi hết thời hạn, UBND cấp xã cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong.
- Ủy ban nhân dân cấp huyện: Chỉ đạo, kiểm tra UBND cấp xã thực hiện công tác quản chế; định kỳ 3 tháng một lần báo cáo tình hình lên UBND cấp tỉnh.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Chỉ đạo toàn diện công tác quản chế trên địa bàn, kiểm tra các cấp dưới và báo cáo định kỳ hàng năm gửi Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an).
- Cơ quan Công an: Có trách nhiệm hỗ trợ UBND cùng cấp trong việc thi hành quyết định. Toàn bộ hồ sơ quản chế hành chính gốc do cơ quan công an lưu giữ và quản lý bảo mật.
- Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an): Chịu trách nhiệm thống nhất chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy chế trên phạm vi cả nước; ban hành các biểu mẫu, quyết định, giấy chứng nhận, giấy phép và giấy triệu tập liên quan.
- Nghiêm cấm hành vi sai phạm: Cơ quan và người có thẩm quyền thi hành quyết định quản chế không được gây khó khăn, cản trở đời sống và công việc bình thường của người bị quản chế. Mọi hành vi lạm quyền, vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất phải bồi thường theo quy định.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 31-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Tất cả các quy định trước đây về quản chế hành chính trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện thống nhất trên toàn quốc.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 31-CP | Hà Nội, ngày 14 tháng 4 năm 1997 |
CHỦA CHÍNH PHỦ SỐ 31-CP NGÀY 14 THÁNG 4 NĂM 1997 BAN HÀNH QUY CHẾ QUẢN CHẾ HÀNH CHÍNH
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 06 tháng 7 năm 1995;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ;
NGHỊ ĐỊNH :
Điều 1.- Nay ban hành kèm theo Nghị định này "Quy chế quản lý hành chính".
Bộ trưởng Bộ Nội vụ thống nhất chỉ đạo và giúp Chính phủ hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Nghị định này.
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
QUẢN CHẾ HÀNH CHÍNH
(Ban hành kèm theo Nghị định số 31/CP ngày 14 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ)
Thời hạn quản chế từ 6 tháng đến 2 năm.
Không áp dụng quản chế hành chính đối với người dưới 18 tuổi.
Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của người bị quản chế hành chính.
THỦ TỤC XÉT DUYỆT, QUYẾT ĐỊNH QUẢN CHẾ HÀNH CHÍNH VÀ GIẢM THỜI HẠN QUẢN CHẾ HÀNH CHÍNH
Cơ quan công an cấp huyện và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) nơi có người cần áp dụng biện pháp quản chế hành chính cư trú, có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong việc thu thập tài liệu và lập hồ sơ.
Điều 6.- Hồ sơ đề nghị quản chế hành chính gồm:
- Tóm tắt lý lịch của người cần áp dụng biện pháp quản chế hành chính;
- Tài liệu về các vi phạm pháp luật của người cần áp dụng biện pháp quản chế hành chính;
- Ý kiến của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người cần áp dụng biện pháp quản chế hành chính;
- Ý kiến của Mặt trận Tổ quốc cấp huyện;
- Nhận xét của cơ quan công an cấp huyện;
- Đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Trong trường hợp cần thiết, cuộc họp có thể được hoãn để xác minh, làm rõ thêm hồ sơ của người cần quản chế hành chính.
Trường hợp người bị quản chế hành chính phải thi hành quyết định ở nơi khác, trước khi ra quyết định quản chế, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi thi hành quyết định quản chế, chuẩn bị điều kiện cần thiết để người bị quản chế hành chính thi hành quyết định.
Nội dung quyết định quản chế hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; họ tên, chức vụ của người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị quản chế hành chính; lý do, điều khoản, tên văn bản pháp luật được áp dụng, thời hạn và nơi thi hành quyết định; quyền khiếu nại của người bị quản chế, nơi và thời hạn khiếu nại.
- Người bị quản chế hành chính có tiến bộ rõ rệt là người thành thật hối lỗi, tích cực lao động, học tập, nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật và Quy chế quản chế hành chính.
- Người bị quản chế hành chính được coi là lập công nếu có một trong những việc làm như: tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật của người khác; giúp đỡ cơ quan công an trong việc điều tra phát hiện tội phạm; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong sản xuất; cứu được tính mạng của người khác trong tình thế hiểm nghèo; cứu được tài sản của Nhà nước, tập thể hoặc của công dân khi có bão lụt, hoả hoạn, dịch bệnh...
Thời hạn được giảm không quá 1/3 thời hạn phải quản chế hành chính.
Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc xem xét giảm thời hạn quản chế hành chính, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi người bị quản chế thi hành quyết định quản chế.
NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ QUẢN CHẾ HÀNH CHÍNH
Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo quyết định và nội dung của Quy chế quản chế hành chính cho người bị quản chế hành chính biết để thi hành.
Người bị quản chế hành chính không đến trình diện đúng thời hạn mà không có lý do chính đáng, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã triệu tập người bị quản chế đến trụ sở Uỷ ban nhân dân để lập biên bản và buộc thi hành quyết định.
- Đi trong phạm vi cùng một quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh thì do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp giấy phép;
- Đi trong phạm vi cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện cấp giấy phép;
- Đi ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép.
Trường hợp người bị quản chế hành chính đi ra khỏi nơi thi hành quyết định quản chế cần ở lại nơi đến thì mỗi lần được đi không quá 5 ngày và tổng số ngày đó không vượt quá 1/15 thời hạn quản chế.
Trường hợp người bị quản chế hành chính hàng ngày phải đến một nơi nhất định để học tập, lao động hoặc vì lý do chính đáng khác thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có thể xem xét cấp giấy phép theo từng tháng. Trong giấy phép do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp cho người bị quản chế hành chính phải ghi rõ thời hạn, nơi đến và tuyến đường được đi.
Sau khi được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp giấy phép, người bị quản chế hành chính phải thực hiện đúng nội dung ghi trong giấy phép; nếu tạm trú thì phải trình diện và xuất trình ngay giấy phép đó với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mình đến. Hết thời hạn tạm trú, người bị quản chế hành chính phải xin xác nhận của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã trong thời gian tạm trú.
Người bị quản chế đi ra khỏi nơi thi hành quyết định quản chế, mà không có giấy phép, thì thời gian đi ra khỏi nơi thi hành quyết định quản chế không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định quản chế hành chính.
Người bị quản chế hành chính phải trình diện tại trụ sở khi Uỷ ban nhân dân cấp xã yêu cầu; nếu vắng mặt mà không có lý do chính đáng, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã triệu tập họ đến trụ sở Uỷ ban nhân dân để lập biên bản và yêu cầu họ làm kiểm điểm về hành vi vi phạm đó.
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH QUẢN CHẾ HÀNH CHÍNH
Công an cấp xã giúp Uỷ ban nhân dân cấp xã, lập hồ sơ theo dõi và phối hợp với các tổ chức, nhân dân địa phương, gia đình người bị quản chế trong việc quản lý, giáo dục người bị quản chế.
Hồ sơ quản chế hành chính do cơ quan công an lưu giữ.
- 1Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995
- 3Thông tư 06/1998/TT-BCA hướng dẫn thực hiện Quy chế quản chế hành chính kèm theo Nghị định 31/CP-1997 do Bộ Công an ban hành
- 4Chỉ thị 20/2002/CT-TTg về thi hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nghị định 31-CP năm 1997 ban hành Quy chế quản chế hành chính
- Số hiệu: 31-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 14/04/1997
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Võ Văn Kiệt
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 10
- Ngày hiệu lực: 29/04/1997
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
