Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác phải chịu hình phạt thế nào?

Ngày gửi: 27/07/2020 lúc 11:31:12

Mã số câu hỏi: HTPL41956

Câu hỏi:

Chào Luật sư! Luật sư cho em hỏi: Gần bạn của em có đặt hàng qua mạng để mua đồ giá tiền là 6.000.000. Nhưng bây giờ bạn em không có tiền, người chủ hàng trên mạng nói là lừa gạt rồi báo công an. Cho em hỏi như vậy là bạn em có mang tội lừa đảo không và nếu có phạm tội thì mức độ xử lí như thế nào mà bạn em là 16 tuổi ? Em xin Luật sư tư vấn giùm em! 

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Căn cứ Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 thì:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

…”

Dấu hiệu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: 

Chủ thể: Chủ thể của tội phạm này là người từ đủ 16 tuổi trở lên có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với khoản 1, khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Hành vi: Chủ thể phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản đó. Thủ đoạn gian dối bao giờ cũng có trước khi việc giao tài sản giữa người bị hại và người phạm tội. 

Hậu quả: Là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Giá trị tài sản này phải từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 174 nêu trên. 

Lỗi: Người thực hiện hành vi  chiếm đoạt tài sản với lỗi cố ý với mong muốn là chiếm đoạt được tài sản. 

Như thế, trong trường hợp này, việc bạn của bạn đặt hàng qua mạng nhưng không trả được tiền cho chủ cửa hàng thì cần phân biệt như sau: 

Thứ nhất, bạn của bạn đã lấy hàng và không trả tiền, có dấu hiệu bỏ trốn thì trường hợp này bạn của bạn có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. 

Thứ hai, bạn của bạn đã lấy hàng và không có khả năng trả tiền, không có dấu hiệu bỏ trốn thì trường hợp này không có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vấn đề này được giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự 2015. Căn cứ Điều 430 Bộ luật dân sự 2015 thì: Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Thứ ba: Bạn của bạn chưa nhận hàng, chỉ nhận mua hàng thì không cấu thành tội phạm

Như thế, bên mua phải có nghĩa vụ: 

–  Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài:024.6294.9155

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam