Không để lại di sản thừa kế cho con đẻ, để lại hết cho con nuôi được không?

Ngày gửi: 26/11/2020 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL42274

Câu hỏi:

Không để lại di sản thừa kế cho con đẻ, để lại hết cho con nuôi được không? Trường hợp nào con đẻ không được hưởng thừa kế? Con nuôi không được thừa kế.

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Mối quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và con nuôi được xác lập và được pháp luật công nhận khi mà có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc chấp thuận việc nhận nuôi con. Kể từ khi đó, dựa trên nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử của pháp luật hôn nhân và gia đình, con nuôi sẽ có đầy đủ những quyền lợi và nghĩa vụ của người con, đồng thời cha mẹ nuôi cũng sẽ có đầy đủ những quyền lợi và nghĩa vụ của bậc sinh thành đối với con nuôi. Hiện nay rất có nhiều trường hợp con ruột đối xử với bố mẹ không tốt bằng con nuôi, vậy khi đó bố mẹ có thể để lại di sản thừa kế cho con nuôi mà không cần để lại cho con đẻ được không. Trong bài viết dưới đây của công ty Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam sẽ giúp bạn đọc giải đáp thắc mắc về trường hợp không để lại di sản thừa kế cho con đẻ mà để lại cho con nuôi như sau:

1. Quyền của người lập di chúc theo quy định của pháp luật

 Theo  Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tại Điều 625 về người lập di chúc như sau

1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc

Người lập di chúc là người có tài sản muốn định đoạt tài sản của mình cho người khác hưởng sau khi chết. Người lập di chúc phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, bởi vì di chúc là giao dịch một bên ( hành lý pháp lý đơn phương) cho nên năng lực chủ thể của người lập di chúc phải phù hợp với năng lực của người tham gia giao dịch. Lập di chúc là sự tự nguyện của người lập di chúc, người lập di chúc có quyền quyết định cho cá nhân, chủ thể khác hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản của mình sau khi chết. Nếu người lập di chúc bị ép buộc, lừa dối trong việc lập di chúc thì di chúc đó bị vô hiệu.

Trường hợp người lập di chúc là người chưa thành niên ( từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi ) khi lập di chúc phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý cho lập di chúc. Vì người lập di chúc là người chưa thành niên, cho nên không thể nhận thức đầy đủ hậu quả của hành vi lập di chúc, do vậy pháp luật quy định cần phải có sự kiểm soát của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Tuy nhiên cha mẹ hoặc người giám hộ không được ép người chưa thành niên lập di chúc theo ý của mình. Người lập di chúc có quyền quyết định cho cá nhân, chủ thể khác hưởng di sản của mình sau khi chết.

2. Trường hợp con nuôi được hưởng toàn bộ di sản theo quy định của pháp luật

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 tại điều 609 về quyền thừa kế như sau:

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.

Theo như quy định trên thì cá nhân có quyền sở hữu tài sản thì có quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho người khác hưởng sau khi chết. Việc lập di chúc phải tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực di chúc. Trường hợp cá nhân không lập di chúc, thì tài sản để lại của mình cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật. Pháp luật quy định trình tự, thủ tục chuyển dịch di sản của người để lại thừa kế cho những người thừa kế.

Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật có quyền nhận hoặc từ chối nhân di sản, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người thứ ba.Thừa kế theo pháp luật phát sinh dựa trên một trong các quan hệ sau: hôn nhân, huyết thống, hoặc nuôi dưỡng. Thừa kế theo di chúc phát sinh theo ý chí chủ quan của người lập di chúc mà không có điều kiện bắt buộc. Người lập di chúc có quyền định đoạt tài sản của mình cho bất kỳ chủ thể nào, vì vậy, nếu di chúc chỉ định pháp nhân thì pháp nhân đó là người thừa kế theo di chúc. Những người thừa kế theo pháp luật của người chết được chia thành 03 hàng thừa kế.

Thứ nhất người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc cũng có thể là các hành vi người đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó. Trên thực tế hiện nay trong cuộc sống nhiều trường hợp các thành viên trong gia đình là các con có những hành vi không đúng chuẩn mực về mặt đạo đức đối với cha mẹ , thường xuyên xúc phạm hành hạ đánh đập người đã nuôi mình.

Thứ hai nhũng người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản, ví dụ như không có trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng chăm sóc bố mẹ.

Thứ ba những người bị kết án về các hành vi cố ý xâm phạm tính mạng các người thừa kế khác để nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền được hưởng, những hành vi này thường chủ yếu một số người thừa kế có lòng tham, muốn tranh giành hoặc chiếm đoạt toàn bộ phần thừa kế của những người thừa kế khác.

Cuối cùng những người có những hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, hoặc những người giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, hoặc che giấu di chúc đi nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với mong muốn ý chí của người để lại di sản. Tuy nhiên những người nay vẫn được hưởng di sản này với điều kiện là những người để lại di sản đã biết hành vi của họ nhưng vẫn đồng ý cho họ được hưởng di sản theo di chúc.

Có thể thấy cá nhân có di sản có quyền được định đoạt di sản của mình cho bất cứ ai bằng hình thức lập di chúc, không phụ thuộc là con nuôi hay con ruột hay người không có quan hệ máu mủ hoặc có quan hệ thân nhân về mặt pháp luật với người có di sản để lại.

3. Trường hợp con nuôi không được hưởng toàn bộ di sản theo quy định của pháp luật

Theo Điều 651 của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về hàng thừa kế theo pháp luật như sau:

Điều 651: Người thừa kế theo pháp luật:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Diện thừa kế là phạm vi những người có quyền hưởng di sản của người chết theo quy định của pháp luật. Diện những người thừa kế được xác định dựa trên ba mối quan hệ với người để lại di sản : hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng.

Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng trên cơ sở kết hôn hợp pháp (theo các điều kiện do pháp luật quy định tại thời điểm kết hôn). Trên cơ sở quan hệ huyết thống từ gần đến xa, pháp luật phân chia diện những người thừa kế thành các hàng thừa kế. Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ và cha mẹ nuôi và con nuôi: Cha đẻ, mẹ đẻ của một người là người đã sinh ra người đó.

Do vậy, cha mẹ của người con trong giá thú hoặc ngoài giá thú đều là người thừa kế ở hàng thứ nhất của con mình và ngược lại. Đối với quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi sẽ là hàng thừa kế thứ nhất của nhau nếu việc nhận nuôi được đăng ký theo quy định của pháp luật.

Hàng thừa kế thứ hai: Để xác định hàng thừa kế thứ hai cần làm rõ các khái niệm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại và anh chị em ruột. Cụ thể ông nội, bà nội là người đã sinh ra cha của một người; ông ngoại, bà ngoại là người đã sinh ra mẹ của người đó. Anh, chị, em ruột là những người có cùng ít nhất cha hoặc mẹ. Quan hệ này chỉ được xác định trên quan hệ huyết thống.

Hàng thừa kế thứ ba: Cụ nội là người đã sinh ra ông nội hoặc bà nôi của một người. Tương tụ cụ ngoại là người đã sinh ra ông ngoại hoặc bà ngoại của người đó. Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của một người là những anh, chị, em ruột của bố đẻ hoặc mẹ đẻ của người đó.

Như vậy, pháp luật quy định con nuôi thuộc đối tượng hàng thừa kế thứ nhất. Do đó, khi cha mẹ nuôi chết con nuôi hợp pháp có quyền được hưởng thừa kế di sản mà cha mẹ nuôi để lại. Nhấn mạnh tính hợp pháp ở đây bởi lẽ, nếu mối quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi đã không còn được pháp luật công nhận bằng một quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì người con nuôi đó sẽ không có trong hàng thừa kế thứ nhất nữa. Tuy vậy, người này vẫn có thể nhận được thừa kế nếu người chết để lại di chúc chia tài sản cho người đó.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam