Hệ thống pháp luật

kháng nghị

"kháng nghị" được hiểu như sau:

Hành vi tố tụng của người có thẩm quyền, thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần nội dung bản án hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Toà án với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Toà án.Kháng nghị được đưa ra đối với những bản án, quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đã có hiệu lực nhưng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phát hiện thấy có sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản hay một phần quan trọng nội dung của bản án hoặc quyết định của Tòa án mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó. Kháng nghị là quyền, đồng thời là nghĩa vụ của một số chủ thể nhất định hoặc theo luật tố tụng thì các chủ thể này có thẩm quyền ra quyết định khi có căn cứ nhất định. Theo quy định của Luật tố tụng hình sự hiện hành có ba hình thức kháng nghị: phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Tương ứng với mỗi hình thức, thẩm quyền, thủ tục, thời hạn, thông báo về việc kháng nghị, hậu quả của việc kháng nghị; bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị; căn cứ, đối tượng, hậu quả pháp lý và những vấn đề khác có liên quan của kháng nghị cũng khác nhau (các điều 232, 233, 234, 236, 237, 238, 239, 240 Bộ luật hình sự năm 2003).Bản án, quyết định của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc bị kháng nghị thì không được đưa ra thi hành; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có thể bị tạm đình chỉ thi hành đồng thời hoặc sau khi có kháng nghị. Sau khi có kháng nghị, Toà án có thẩm quyền phải xem xét lại bản án, quyết định bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.