Dịch vụ doanh nghiệp online toàn quốc

Kháng cáo và kháng nghị trong vụ án hình sự

Cập nhật: 23/08/2021 lúc 14:49:06

Trong tố tụng hình sự Việt Nam, sau khi Tòa án sơ thẩm ra bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo, cơ quan tiến hành tố tụng có quyền kháng nghị.

Kháng cáo và kháng nghị đều là những quyền tố tụng quan trọng, được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận, bảo đảm thực hiện để các chủ thể có quyền được bày tỏ sự không đồng tình với phán quyết của Tòa án. Vậy giữa kháng cáo và kháng nghị có những điểm khác biệt nào? Hệ thống pháp luật Việt Nam xin tư vấn tham khảo như sau:

I - CĂN CỨ PHÁP LÝ

Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13

Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân số 63/2014/QH13

II - VỀ TIÊU CHÍ

1. Về khái niệm

Kháng cáo Kháng nghị
Kháng cáo là hành vi tố tụng sau khi xử sơ thẩm, nếu đương sự không đồng ý với phán quyết của tòa sơ thẩm thì có quyền chống án. Thuật ngữ pháp lý gọi là “kháng cáo”, yêu cầu tòa cấp trên xét xử một lần nữa theo trình tự phúc thẩm. Kháng nghị là hành vi tố tụng của người đại diện cơ quan tiến hành tố tụng, thể hiện việc phản đối toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, công bằng, đồng thời sửa chữa những sai lầm trong bản án, quyết định của Tòa án.

2. Hình thức

Kháng cáo Kháng nghị
- Kháng cáo lên toà phúc thẩm

- Có 03 hình thức kháng nghị: phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.

3. Chủ thể thực hiện

Kháng cáo Kháng nghị

– Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

– Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa.

– Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.

– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

– Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.

– Người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội.

(Căn cứ theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

–Viện kiểm sát cùng cấp, viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.

(Theo Khoản 1 Điều 336 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

– Kháng nghị giám đốc thẩm: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng viện kiểm sát quân sự trung ương, Chán án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao. 

(Theo Điều 373 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

– Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp cao. 

(Theo Điều 400 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

4. Nội dung

Kháng cáo Kháng nghị

Thực hiện bằng đơn kháng cáo  với các nội dung:

– Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;

– Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;

– Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;

– Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.

 Lưu ý: Kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo.

(Khoản 2, 3 Điều 332 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

Thực hiện bằng quyết định kháng nghị với các nội dung:

– Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;

– Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;

– Kháng nghị đối với toàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm;

– Lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;

– Họ tên, chức vụ của người ký quyết định kháng nghị.

(Khoản 2 điều 336 BLTTHS)

5. Phạm vi

Kháng cáo Kháng nghị

– Bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.

– Phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.

– Phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

– Phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.

– Về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội.

– Áp dụng trong thủ tục phúc thẩm.

(Theo Điều 330, 331 Bộ luật Tố tụng Hình Sư 2015)

– Những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.

– Trường hợp kháng nghị Giám đốc thẩm:

+Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;

+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

(Theo Điều 371 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

– Trường hợp Tái thẩm:

+ Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật;

+ Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án;

+ Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;

+ Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

 (Theo Điều 398 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

 

6. Thời hạn

 

Kháng cáo Kháng nghị

– Kháng cáo bản án sơ thẩm: 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

– Kháng cáo quyết định sơ thẩm: 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.

(Khoản 1 điều 333 BLTTHS)

– Phúc thẩm:

+ Kháng nghị bản án của Tòa án cấp sơ thẩm: đối với Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

+ Kháng nghị quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm:  đối với Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

(Theo Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

 Giám đốc thẩm:

+ Kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

+ Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.

+ Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự. 

(Theo Điều 379 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)

– Tái thẩm: 

+ Tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được thực hiện trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hạn kháng nghị không được quá 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện.

+Tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian và được thực hiện cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.

+ Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

(Theo Điều 401 Bộ luật Tố tụng HÌnh sự 2015)

Trên đây là một số phân tích về sự khác biệt giữa kháng cáo và kháng nghị trong vụ án hình sự.

BBT. Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam