Hưởng tiền trợ cấp thất nghiệp sau khi nghỉ việc

Ngày gửi: 20/08/2020 lúc 09:48:13

Mã số: LD282

Câu hỏi:

Cháu làm việc tại công ty A đến nay được 9 năm 2 tháng thì cháu xin chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng lao động của cháu là hợp đồng không xác định thời hạn. Sau khi chấm dứt và nhận được sổ bảo hiểm cty chưa thanh toán tiền thất nghiệp cho cháu, số tiền là 3 triệu 900 ngàn vnđ. Cháu xin hỏi công ty làm vậy có đúng luật không hay là đang giam tiền của cháu? Cháu xin cảm ơn.

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam (hethongphapluat.com) xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng không xác định thời hạn và bạn đã xin chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, trong trường hợp này bạn có thể được hưởng trợ cấp thôi việc từ công ty và trợ cấp thất nghiệp từ tổ chức bảo hiểm xã hội.

Đối với trợ cấp thôi việc

Tại Điều 48 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

“Điều 48. Trợ cấp thôi việc

1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.”

Theo đó, bạn chỉ được hưởng trợ cấp thôi việc trong các trường hợp sau;

Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Trong trường hợp bạn đã xin chấm dứt hợp đồng lao động và có sự thỏa thuận với công ty về việc chấm dứt hợp đồng lao động thì bạn sẽ được công ty chi trả trợ cấp thôi việc. Tuy nhiên, thời gian tính trợ cấp thôi việc (do công ty chi trả) phải trừ đi thời gian bạn đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Nếu sau khi trừ đi và không còn thời gian tính hưởng trợ cấp thôi việc vì bạn sẽ hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đủ điều kiện như sau:

Đối với trợ cấp thất nghiệp:

Hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng lao động không xác định thời hạn do đó bạn thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 43 Luật việc làm 2013:

“Điều 43. Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp

1. Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau:

a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;”

Theo quy định tại Điều 49 Luật việc làm 2013 các điều kiện để được hưởng trợ cấp thất nghiệp như sau:

“Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1. Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3. Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4. Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

c) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù;

đ) Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

e) Chết.”

Do đó, trong trường hợp bạn có thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng lao động với công ty thì bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu bạn đóng bảo hiểm thất nghiệp đầy đủ theo quy định tại các Khoản 2 Điều 49 Luật việc làm 2013 và thỏa mãn các điều kiện tại khoản 2,3 Điều 49 Luật việc làm 2013. Tổ chức bảo hiểm xã hội sẽ thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho bạn chứ không phải công ty bạn. Để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp bạn cần nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại Điều 46 Luật việc làm 2013 như sau:

“Điều 46. Hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.

2. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày trung tâm dịch vụ việc làm tiếp nhận đủ hồ sơ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp; trường hợp không đủ điều kiện để hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp thì phải trả lời bằng văn bản cho người lao động.

3. Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp.”

Như vậy, bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp (chế độ này do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả), còn công ty sẽ trả phần trợ cấp thôi việc cho bạn.

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam

Lưu ý: Nội dung tư vấn của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy vào từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách hay quy định mới của pháp luật.

Gửi yêu cầu tư vấn

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM